Phát triển kĩ năng dạy học toán cho SV giáo dục tiểu học theo tiếp cận năng lực

Phát triển kĩ năng dạy toán tiểu học hiệu quả theo tiếp cận năng lực. Nâng cao chất lượng giáo dục, giúp học sinh phát triển toàn diện.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

246
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển kĩ năng dạy học toán theo năng lực

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, việc phát triển kĩ năng dạy học toán cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học theo tiếp cận năng lực trở thành một nhiệm vụ cấp thiết. Khác với phương pháp truyền thống chú trọng truyền thụ kiến thức, dạy học theo định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc giúp người học hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực cần thiết để giải quyết vấn đề thực tiễn. Luận án của Nguyễn Văn Đệ (2021) nhấn mạnh rằng, sự thành công của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 phụ thuộc lớn vào đội ngũ giáo viên, những người trực tiếp triển khai chương trình. Do đó, quá trình đào tạo giáo viên theo tiếp cận năng lực tại các trường đại học sư phạm đóng vai trò then chốt. Sinh viên không chỉ cần nắm vững kiến thức toán học, mà quan trọng hơn là phải sở hữu hệ thống kĩ năng sư phạm toán học linh hoạt, sáng tạo. Các kĩ năng này không chỉ là công cụ để truyền đạt tri thức, mà còn là phương tiện để tổ chức hoạt động học tập, khơi gợi tiềm năng, và hình thành năng lực toán học cho học sinh. Việc này đòi hỏi một sự thay đổi toàn diện trong chương trình đào tạo, từ nội dung, phương pháp giảng dạy đến cách thức đánh giá. Mục tiêu cuối cùng là đào tạo ra những giáo viên tiểu học tương lai có khả năng đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại, dạy cho học sinh cách học, cách tự học và vận dụng kiến thức vào cuộc sống.

1.1. Khái niệm kĩ năng dạy học toán tiểu học theo năng lực

Theo nghiên cứu, kĩ năng dạy học toán tiểu học theo tiếp cận năng lực được định nghĩa là những kĩ năng mà người dạy thực hiện trong hoạt động dạy học toán, nhằm mục tiêu chính là hình thành và phát triển các năng lực toán học cho học sinh tiểu học. Bản chất của nó là sự dịch chuyển từ việc dạy kiến thức sang tổ chức cho học sinh học tập, huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm sẵn có để kiến tạo tri thức mới. Những kĩ năng này bao gồm khả năng thiết kế bài giảng gợi mở, tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng dẫn học sinh tự khám phá, và sử dụng các phương pháp đánh giá năng lực học sinh tiểu học một cách hiệu quả. Đây là một tập hợp các hành động chuyên nghiệp, đòi hỏi người giáo viên phải vận dụng linh hoạt lí luận dạy học toán và kinh nghiệm thực tiễn.

1.2. Vai trò của việc đào tạo kĩ năng trong các trường sư phạm

Các trường đại học sư phạm là nơi quyết định chất lượng đội ngũ giáo viên tương lai. Do đó, việc bồi dưỡng giáo viên tiểu học ngay từ trên ghế nhà trường là cực kỳ quan trọng. Hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm phải được thiết kế lại để chú trọng hơn vào thực hành, trải nghiệm. Thay vì chỉ học lý thuyết suông, sinh viên sư phạm tiểu học cần được tham gia vào các tình huống dạy học giả định, thực hành thiết kế giáo án theo định hướng phát triển năng lực, và tham gia các kỳ thực hành sư phạm chất lượng. Quá trình này giúp sinh viên không chỉ nắm vững kiến thức chuyên môn mà còn hình thành được phong cách giảng dạy riêng, đáp ứng tốt chuẩn nghề nghiệp giáo viên và yêu cầu thực tiễn của ngành giáo dục tiểu học.

II. Thách thức khi phát triển kĩ năng dạy học toán cho sinh viên

Quá trình chuyển đổi sang mô hình đào tạo theo tiếp cận năng lực không tránh khỏi những khó khăn và thách thức. Một trong những rào cản lớn nhất là tư duy và thói quen dạy học theo lối cũ, vốn đã ăn sâu vào cả giảng viên và sinh viên. Nhiều chương trình đào tạo hiện nay vẫn còn nặng về lý thuyết hàn lâm, thiếu sự kết nối với thực tiễn giáo dục ở tiểu học. Khảo sát thực trạng trong luận án của Nguyễn Văn Đệ cho thấy, cả giảng viên và sinh viên vẫn còn lúng túng trong việc hiểu đúng và vận dụng các phương pháp dạy học toán ở tiểu học theo định hướng mới. Cụ thể, việc thiết kế các hoạt động học tập nhằm phát triển các năng lực đặc thù như kĩ năng giải quyết vấn đề toán học hay kĩ năng mô hình hóa toán học còn hạn chế. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất, giáo trình và tài liệu tham khảo chưa được cập nhật đồng bộ để hỗ trợ hiệu quả cho việc phát triển kĩ năng dạy học toán cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học. Sự thiếu hụt các công cụ đánh giá năng lực giảng dạy của sinh viên một cách khoa học cũng là một thách thức lớn, khiến quá trình rèn luyện kỹ năng chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Việc khắc phục những hạn chế này đòi hỏi sự nỗ lực đồng bộ từ các cấp quản lý, giảng viên và chính bản thân sinh viên.

2.1. Hạn chế trong chương trình đào tạo hiện hành

Nhiều giáo trình phương pháp dạy học toán hiện nay vẫn được biên soạn theo hướng tiếp cận nội dung. Các hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên đôi khi còn mang tính hình thức, chưa thực sự tạo cơ hội cho sinh viên thực hành sâu các kĩ năng cốt lõi. Thời lượng dành cho các học phần thực hành, kiến tập, thực tập còn ít, chưa đủ để sinh viên cọ xát và tích lũy kinh nghiệm. Sự liên kết giữa nhà trường sư phạm và các trường tiểu học phổ thông còn lỏng lẻo, khiến hoạt động đào tạo chưa bám sát thực tiễn yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

2.2. Khó khăn từ phía giảng viên và sinh viên sư phạm

Một bộ phận giảng viên có thể chưa được bồi dưỡng kịp thời về các phương pháp dạy học hiện đại, dẫn đến việc vẫn giảng dạy theo kinh nghiệm cũ. Về phía sinh viên sư phạm tiểu học, nhiều người vẫn còn quen với lối học thụ động, tập trung vào việc ghi nhớ kiến thức để thi cử thay vì chủ động rèn luyện kỹ năng. Nhận thức về tầm quan trọng của các kĩ năng như năng lực giao tiếp toán học hay khả năng tổ chức dạy học tích hợp STEM còn chưa đầy đủ. Điều này tạo ra một lực cản không nhỏ trong quá trình đổi mới phương pháp đào tạo tại các trường đại học.

III. Biện pháp xây dựng khung năng lực dạy học toán hiệu quả

Để phát triển kĩ năng dạy học toán cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học một cách hệ thống, việc đầu tiên là cần xây dựng một khung năng lực rõ ràng và khoa học. Khung năng lực này phải bám sát chuẩn nghề nghiệp giáo viên và các yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới. Dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Văn Đệ, hệ thống kĩ năng cần phát triển cho sinh viên được chia thành ba nhóm chính: (1) Nhóm kĩ năng chuẩn bị giờ dạy, (2) Nhóm kĩ năng thực hiện giờ dạy, và (3) Nhóm kĩ năng đánh giá kết quả dạy và học. Mỗi nhóm kĩ năng này lại bao gồm các kĩ năng thành phần cụ thể, có tiêu chí và chỉ báo rõ ràng để đo lường. Việc xây dựng một quy trình phát triển kĩ năng dạy học toán bài bản là nền tảng. Quy trình này cần bắt đầu từ việc trang bị lí luận dạy học toán hiện đại, sau đó tổ chức cho sinh viên thực hành từ đơn giản đến phức tạp, và cuối cùng là đánh giá, phản hồi để cải tiến. Quá trình này không chỉ diễn ra trong các học phần nghiệp vụ mà cần được tích hợp vào toàn bộ chương trình đào tạo, tạo thành một chu trình khép kín và liên tục, giúp sinh viên hình thành năng lực dạy học toán một cách bền vững.

3.1. Xác định hệ thống kĩ năng dạy học toán tiểu học cốt lõi

Hệ thống này cần được xác định dựa trên phân tích hoạt động nghề nghiệp của giáo viên tiểu học. Nhóm kĩ năng chuẩn bị bao gồm: phân tích chương trình, xác định mục tiêu, thiết kế chuỗi hoạt động học tập, dự kiến các tình huống sư phạm. Nhóm kĩ năng thực hiện giờ dạy bao gồm: tổ chức hoạt động, đặt câu hỏi gợi mở, sử dụng đồ dùng dạy học, quản lý lớp học. Nhóm kĩ năng đánh giá tập trung vào việc thiết kế công cụ đánh giá năng lực học sinh tiểu học, đưa ra nhận xét mang tính xây dựng và sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh hoạt động dạy.

3.2. Thiết kế chương trình đào tạo tích hợp và thực tiễn

Chương trình đào tạo cần được thiết kế lại theo hướng module hóa, tăng cường tính liên thông giữa các học phần lý thuyết và thực hành. Các hoạt động như micro-teaching (giảng dạy vi mô), nghiên cứu tình huống, dự án học tập cần được triển khai thường xuyên. Đặc biệt, nội dung thực hành sư phạm cần được đổi mới, không chỉ là 'đi thực tập' mà phải là một quá trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm có hướng dẫn, giám sát và đánh giá chặt chẽ từ cả giảng viên hướng dẫn và giáo viên phổ thông.

IV. Phương pháp rèn luyện nghiệp vụ sư phạm toán cho sinh viên

Sau khi có khung năng lực, việc áp dụng các phương pháp rèn luyện phù hợp là yếu tố quyết định thành công. Việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên cần thoát ly khỏi cách làm truyền thống. Thay vào đó, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực ngay trong quá trình đào tạo. Giảng viên sư phạm phải là người làm mẫu cho sinh viên về cách tổ chức một giờ học theo định hướng phát triển năng lực. Dạy học dựa trên dự án, dạy học giải quyết vấn đề, và dạy học qua nghiên cứu bài học (Lesson Study) là những mô hình hiệu quả. Các phương pháp này đặt sinh viên sư phạm tiểu học vào vai trò chủ thể của quá trình học tập, tự mình tìm tòi, thực hành và rút kinh nghiệm. Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ thông tin và các phần mềm dạy học toán cần được chú trọng để sinh viên làm quen và thành thạo. Việc tổ chức các buổi seminar, workshop chuyên đề về phương pháp dạy học toán ở tiểu học hay các kỹ năng mềm khác cũng góp phần nâng cao toàn diện năng lực dạy học toán cho sinh viên. Quá trình này đòi hỏi sự tương tác liên tục, phản hồi kịp thời từ giảng viên để giúp sinh viên nhận ra điểm mạnh, điểm yếu và có kế hoạch tự hoàn thiện bản thân.

4.1. Hướng dẫn sinh viên học tập lí luận dạy học toán hiện đại

Việc học lý luận không chỉ là ghi nhớ các khái niệm. Giảng viên cần tổ chức cho sinh viên phân tích các giáo trình phương pháp dạy học toán, so sánh các mô hình dạy học khác nhau, và liên hệ lý thuyết với các video giờ dạy thực tế. Sinh viên cần được khuyến khích thảo luận, phản biện và xây dựng quan điểm riêng về cách áp dụng lí luận dạy học toán vào bối cảnh cụ thể của giáo dục tiểu học Việt Nam, đặc biệt là các năng lực cốt lõi như kĩ năng giải quyết vấn đề toán họckĩ năng mô hình hóa toán học.

4.2. Tổ chức hoạt động thực hành và kiến tập chuyên sâu

Các hoạt động thực hành sư phạm cần được tổ chức thường xuyên và đa dạng. Sinh viên có thể bắt đầu bằng việc quan sát và phân tích băng hình các tiết dạy mẫu, sau đó tập giảng theo nhóm nhỏ, và cuối cùng là thực tập tại trường phổ thông. Quá trình này cần có sự đồng hành của giảng viên và giáo viên hướng dẫn, với các công cụ quan sát và phiếu đánh giá rõ ràng. Việc này giúp sinh viên từng bước làm chủ các kĩ năng sư phạm toán học và tự tin hơn khi đứng lớp.

V. Cách áp dụng và đánh giá kĩ năng dạy học toán thực tiễn

Đánh giá là một khâu không thể thiếu trong quá trình phát triển kĩ năng dạy học toán cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học. Phương pháp đánh giá cũng cần thay đổi để tương thích với tiếp cận năng lực. Thay vì chỉ dựa vào các bài thi viết, cần chuyển sang đánh giá đa dạng, toàn diện thông qua sản phẩm học tập và quá trình thực hành của sinh viên. Hồ sơ học tập (portfolio), bài giảng thực hành, sản phẩm dự án, và kết quả các bài kiểm tra năng lực sư phạm là những minh chứng xác thực nhất. Luận án của Nguyễn Văn Đệ đã xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chi tiết cho từng kĩ năng thành phần, phân theo các mức độ từ cơ bản đến thành thạo. Dựa trên bộ tiêu chí này, cả giảng viên và sinh viên đều có thể thực hiện việc đánh giá. Giảng viên đánh giá để đưa ra phản hồi, còn sinh viên tự đánh giá để nhận biết sự tiến bộ của bản thân. Việc áp dụng các nghiên cứu trường hợp, phân tích các tình huống dạy học cụ thể cũng là cách hiệu quả để đánh giá khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức và kỹ năng của sinh viên vào thực tiễn, đặc biệt là khả năng đánh giá năng lực học sinh tiểu học.

5.1. Xây dựng bộ công cụ đánh giá theo chuẩn năng lực

Bộ công cụ này bao gồm các phiếu quan sát giờ dạy, bảng kiểm (checklist) các tiêu chí cần đạt, thang đo rubric chi tiết cho từng kĩ năng. Các tiêu chí cần đo lường được cả kiến thức, kĩ năng và thái độ của sinh viên trong hoạt động dạy học. Ví dụ, một rubric đánh giá kĩ năng đặt câu hỏi có thể bao gồm các tiêu chí như: tính gợi mở, tính hệ thống, phù hợp với đối tượng, khuyến khích tư duy bậc cao. Công cụ này phải đảm bảo tính khách quan, tin cậy và có khả năng phân loại được các mức độ năng lực khác nhau của sinh viên.

5.2. Kết quả thực nghiệm sư phạm và bài học kinh nghiệm

Kết quả thực nghiệm trong nghiên cứu cho thấy các biện pháp đề xuất có tính khả thi và hiệu quả cao. Nhóm sinh viên được tác động theo quy trình mới đã có sự tiến bộ vượt bậc về năng lực dạy học toán so với nhóm đối chứng. Họ tự tin hơn trong việc thiết kế và tổ chức các hoạt động dạy học, linh hoạt hơn trong việc xử lý tình huống sư phạm. Bài học rút ra là việc phát triển kĩ năng dạy học toán là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự kiên trì và phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, giảng viên và sinh viên. Phản hồi và điều chỉnh liên tục là chìa khóa để nâng cao chất lượng đào tạo.

VI. Tương lai của đào tạo giáo viên tiểu học theo năng lực

Việc phát triển kĩ năng dạy học toán cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học theo tiếp cận năng lực không chỉ là một giải pháp tình thế mà là một xu hướng tất yếu của giáo dục hiện đại. Trong tương lai, chương trình đào tạo giáo viên cần tiếp tục được cập nhật, linh hoạt hơn để bắt kịp với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ và xã hội. Việc tích hợp các yếu tố như giáo dục STEM, trí tuệ nhân tạo, và kỹ năng số vào chương trình đào tạo sẽ là yêu cầu bắt buộc. Hơn nữa, cần tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa các trường sư phạm, viện nghiên cứu và các trường tiểu học để tạo thành một hệ sinh thái giáo dục bền vững, nơi lý luận và thực tiễn luôn song hành. Chất lượng của giáo dục tiểu học phụ thuộc vào người thầy, và việc đầu tư bài bản cho quá trình đào tạo giáo viên theo tiếp cận năng lực hôm nay chính là sự đầu tư vững chắc nhất cho tương lai. Những giáo viên được trang bị đầy đủ năng lực dạy học toán sẽ là những người thắp lên ngọn lửa đam mê học tập và sáng tạo cho thế hệ học sinh mai sau, góp phần thực hiện thành công mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

6.1. Xu hướng tích hợp công nghệ và phương pháp mới

Trong tương lai, việc đào tạo không thể tách rời công nghệ. Sinh viên cần được trang bị kỹ năng sử dụng các phần mềm mô phỏng, công cụ dạy học tương tác và các nền tảng học tập trực tuyến. Các phương pháp dạy học mới như lớp học đảo ngược (flipped classroom), học tập dựa trên trò chơi (game-based learning) cần được nghiên cứu và áp dụng để làm phong phú thêm kĩ năng sư phạm toán học của sinh viên, giúp họ tạo ra những giờ học hấp dẫn và hiệu quả.

6.2. Kiến nghị và đề xuất để nâng cao chất lượng đào tạo

Dựa trên các kết quả nghiên cứu, cần có những chính sách đồng bộ để hỗ trợ các trường sư phạm trong việc đổi mới. Cần đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, xây dựng hệ thống học liệu mở và tổ chức các khóa bồi dưỡng giáo viên tiểu học và giảng viên sư phạm một cách thường xuyên. Đồng thời, cần xây dựng một cơ chế phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các đơn vị đào tạo và đơn vị sử dụng lao động để đảm bảo chương trình đào tạo luôn bám sát và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thực tiễn giáo dục.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung luận án gồm bốn chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của việc phát triển kĩ năng dạy học toán cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học ở trƣờng đại học theo tiếp cận năng lực. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển kĩ năng dạy học toán cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học ở trƣờng đại học theo tiếp cận năng lực. Chƣơng 3: Biện pháp phát triển kĩ năng dạy học toán cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học ở trƣờng đại học theo tiếp cận năng lực. Chƣơng 4: Thực nghiệm sƣ phạm.

7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG DẠY HỌC TOÁN CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về kĩ năng dạy học toán Trong lịch sử nghiên cứu giáo dục, đã có khá nhiều nghiên cứu về KNDH. Trong đó, đáng kể nhất là những nghiên cứu của Edward Conrad Wragg [92], Chris Kyriacou [86], James M.v… Những nghiên cứu của các tác giả đã bàn luận khá sâu về lí luận KNDH.

Bao gồm: khái niệm, bản chất KNDH, cách phân loại và hệ thống hóa KNDH hiện đại. Dƣới đây là một số phân tích cụ thể: Edward Conrad Wragg trong tác phẩm “Classroom Teaching Skills” [91], đã đƣa ra quan niệm về các KN quản lí lớp học khi GV dạy học, KN lần chạm chán đầu tiên của GV với lớp học của họ, KN đánh giá HS của ngƣời dạy, KN đặt câu hỏi; giải thích và lời giải thích; tổ chức lớp học và học tập. Đặc biệt, Edward Conrad Wragg đã có nhiều công trình nghiên cứu về KNDH của GVTH, trong cuốn “Primary Teaching Skills” [92], tác giả đã đƣa ra nhận định “Giáo viên tiểu học luôn luôn được yêu cầu để làm chủ một vốn kiến thức và kĩ năng chuyên nghiệp”. Trong tác phẩm của mình tác giả đã đƣa ra các KN cần thiết, đặc trƣng cho GV bậc tiểu học nhƣ KN: nghiên cứu hệ thống để quản lí lớp học; quản lí cách cƣ xử và công việc của trẻ; quản lí cách nhìn nhận của HS.

Tuy nhiên trong tác phẩm này tác giả không đề cập tới các KN: Đánh giá kết quả học tập của HS; tổ chức lớp học và học tập. 8 Chris Kyriacou trong tác phẩm “Essential Teaching Skills” [86], đã trình bày về các KN: lập kế hoạch bài học và chuẩn bị bài học; giới thiệu bài học; quản lí lớp học; đánh giá sự tiến bộ của ngƣời học. Cooper trong tác phẩm “Classroom Teaching Skills” [102], đã đƣa ra các vấn đề liên quan đến các KNDH nhƣ KN: xác định mục tiêu; lập kế hoạch; tổ chức các hoạt động học tập cho ngƣời học; đặt câu hỏi; quản lí lớp học; tổ chức học tập hợp tác; đánh giá học tập của HS. Các nhà giáo dục hiện đại ở Anh đã xây dựng chƣơng trình, kế hoạch đánh giá và phát triển KNDH cho GV thông qua việc thực hiện dự án “Bristish Council Teaching Skills – Inspiring Teaching Excellence” [101], giúp ngƣời học không chỉ hiểu rõ hệ thống các KNDH mà còn đánh giá đƣợc các mức độ KNDH của GV, những KN đƣợc đánh giá bao gồm: quản lí lớp học; kế hoạch khóa học và bài học; tìm hiểu ngƣời học; kiến thức môn học; công nghệ học tập.

Đặng Thành Hƣng [24], đã căn cứ vào những nhiệm vụ dạy học thiết yếu của GV trong hoạt động nghề nghiệp để phân chia KNDH thành bốn nhóm cơ bản: KN nghiên cứu ngƣời học và việc học; KN lãnh đạo và quản lí ngƣời học, việc học; KN thiết kế dạy học và hoạt động giáo dục; KN dạy học trực tiếp (tác nghiệp). Phạm Minh Hùng [21], Nguyễn Bá Minh [35] trong các công trình nghiên cứu của mình đã đƣa ra các quan niệm về KNDH ở tiểu học và cụ thể hơn là các KN để dạy học môn Toán nhƣ KN thiết kế bài học toán; KN đánh giá kết quả học tập toán cho HS; KN sử dụng các PPDH toán;… Một số nghiên cứu tập trung vào thực trạng rèn luyện nghiệp vụ của các trƣờng sƣ phạm, từ đó đã đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng rèn luyện NVSP; đề xuất các biện pháp hình thành và phát triển các KNDH của GV, các biện pháp vận dụng các KNDH này vào thực tiễn dạy học ở nhà trƣờng phổ thông, góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo, thúc đẩy đổi mới 9 giáo dục đã đƣợc trình bày trong các công trình của Phan Quốc Lâm [32], Nguyễn Quang Uẩn [72], Nguyễn Hữu Dũng [13], Trịnh Thị Quý [49], Nguyễn Nhƣ An [1], Trần Anh Tuấn [68], Phan Thanh Long [34]. Những nghiên cứu cụ thể về KNDH toán cho SV ngành GDTH đã làm rõ bản chất, cấu trúc, các tiêu chí nhận diện và đánh giá KNDH, xây dựng qui trình rèn luyện KNDH, đề xuất các biện pháp để hình thành và phát triển KNDH trong quá trình đào tạo ở trƣờng đại học đã đƣợc trình bày trong các công trình của Phạm Văn Cƣờng [11], Nguyễn Dƣơng Hoàng [19], Nguyễn Anh Tuấn [64]. Qua nghiên cứu các công trình về KNDH nói trên, chúng tôi khái quát một số thành tựu nổi bật mà các nhà khoa học đã đạt đƣợc nhƣ sau: Thứ nhất, trong hầu hết các công trình nghiên cứu của các tác giả đã tƣơng đối thống nhất đƣợc quan niệm luận về KNDH.

Thứ hai, có nhiều quan điểm khác nhau khi phân loại, hệ thống hóa KNDH. Có tác giả dựa vào nhiệm vụ của ngƣời GV để phân loại KNDH, có tác giả lấy tiến trình tổ chức dạy học để phân loại KNDH, một số tác giả phân loại KNDH theo tiếp cận dựa vào ngƣời học. Thứ ba, vấn đề nhận diện và đánh giá KNDH đã đƣợc đề cập tới khá đầy đủ và sâu sắc. Điển hình là các phân tích của Chris Kyriacou trong“Essential Teaching Skills” [86], James M.

Cooper trong “Classroom Teaching Skills” [102], Đặng Thành Hƣng trong “Nhận diện và đánh giá kĩ năng dạy học” [22]. Có thể nói, các công trình nghiên cứu của các tác giả cơ bản đã xây dựng đƣợc khung lí thuyết tƣơng đối đầy đủ về KNDH, đây là những tiền đề hết sức quan trọng để chúng tôi xây dựng khung lí thuyết (cơ sở lí luận) cho đề tài nghiên cứu của mình. Những nghiên cứu về phát triển KNDH toán cho SV ngành GDTH theo tiếp cận năng lực Từ những năm 60 của thế kỉ XX, ở Liên Xô và Đông Âu đã có nhiều công trình nghiên cứu về KNDH theo tiếp cận năng lực, tiêu biểu là các nhà nghiên cứu nhƣ: Krutetxki V. Trong các nghiên cứu của mình, các tác giả hầu hết đƣa ra hệ thống các KN cơ bản của ngƣời GV cần có; xác định các cấu trúc năng lực và biện pháp phát triển năng lực cho SV để trở thành một giáo viên giỏi.

Bƣớc sang thập kỉ 70, các công trình nghiên cứu ở Liên Xô và Đông Âu đẩy mạnh theo hƣớng phát triển năng lực dạy học cho SV sƣ phạm thông qua việc phát triển mạnh mẽ mô hình đào tạo mới với sự ra đời của “Phòng nghiên cứu đào tạo giáo viên ở trường sư phạm”. Tạo tiền đề cho sự xuất hiện hàng loạt các công trình nhƣ: + Công trình nghiên cứu “Hình thành các kĩ năng, kĩ xảo sư phạm cho sinh viên trong điều kiện của nền giáo dục đại học” của Kixêgôv X.I [28], trong công trình này ông đã đƣa ra đƣợc năng lực dạy học của ngƣời GV và bồi dƣỡng những năng lực cụ thể này trong từng giai đoạn học tập ở các trƣờng sƣ phạm. + Công trình nghiên cứu “Nội dung và cấu trúc thực hành sư phạm ở các trường Đại học Sư phạm trong giai đoạn hiện nay” của Apđuliama O.A [3], ông đã dựa vào các quan điểm của mình để xây dựng hệ thống KNDH và KN giáo dục riêng biệt đƣợc mô tả theo thứ bậc. Ở các nƣớc phƣơng Tây (Mỹ, Pháp, Canađa, Ôxtrâylia, …), các nhà nghiên cứu đặc biệt chú trọng đến việc hình thành các KN thực hành giảng dạy cho SV dựa trên các thành tựu của “Tâm lí học hành vi và tâm lý học chức năng, nghiên cứu Didactic,… ” thể hiện trong các công trình ở thời điểm 11 này nhƣ: Jean Pierre Kahane – Claude Castella – Alain Mercire – Philippe Clarou – Irem Grenoble [26]; Annie Bessot, Claude Comiti, Francoise Richard (1992) [2]; Báo cáo “Khoa học và nghệ thuật đào tạo các thầy giáo” của nhóm Phiđenta Kapkar (Mỹ), “Hội thảo về cách tân việc đào tạo bồi dưỡng giáo viên của các nước Châu Á – Thái Bình Dương” do APEID tổ chức tại Seoul (Hàn Quốc),… Các công trình nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Toàn [61], Hoàng Chúng [8], Nguyễn Kỳ [31], Phạm Văn Hoàn (chủ biên), Nguyễn Gia Cốc, Trần Thúc Trình [18] tập trung chủ yếu vào việc vận dụng lí luận dạy học kinh điển của thế giới vào thực tiễn dạy học, trang bị cho ngƣời học những hiểu biết lí luận ban đầu về KN; tiến hành luyện tập KN theo một trình tự logic từ việc bắt đầu luyện tập các thao tác, hành động đơn lẻ; rèn luyện để đạt đƣợc mức độ thuần thục; từ đó giúp hình thành và phát triển KNDH toán cho SV.

Một số công trình nghiên cứu về KNDH toán theo tiếp cận năng lực chủ yếu tập trung tìm hiểu những thành phần năng lực dạy học, đề xuất các biện pháp để đƣa ra cách thức tổ chức dạy học; đổi mới PPDH đạt hiệu quả cao hơn. Bồi dƣỡng năng lực nghề nghiệp cho SV sƣ phạm thông qua việc chú trọng hoạt động rèn luyện NVSP thƣờng xuyên đƣợc trình bày trong các công trình nghiên cứu của Trần Việt Cƣờng [12], Đỗ Thị Trinh [63],… Nhƣ vậy, vấn đề phát triển KNDH toán theo tiếp cận năng lực đƣợc quan tâm xem xét từ rất sớm, nhƣng những kết quả nghiên cứu này vẫn thiên về nghiên cứu lí luận kinh điển, hàn lâm, chƣa có sự gắn kết chặt chẽ giữa lí luận dạy học ở trƣờng đại học với thực tiễn giáo dục ở tiểu học. Hiện nay, các trƣờng đại học đang có những đổi mới mạnh mẽ, toàn diện cả về nội dung, hình thức tổ chức và phƣơng pháp dạy học. Mặc dù vậy, hiệu quả mang lại của các hoạt động này chƣa cao vì chƣa chú trọng đến việc hình thành và rèn luyện KN nghề nghiệp cốt lõi cho SV, nhìn chung sau quá trình đào tạo năng lực của SV chƣa đáp ứng đƣợc với những đòi hỏi từ thực tiễn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ