CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KÊNH PHÂN PHỐI BẢO HIỂM NHÂN THỌ QUA NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ qua Ngân hàng 1. Tổng quan về kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ 1. Khái niệm: Theo Trương Đình Chiến (2010) định nghĩa: “Neu hiểu theo cách đơn giản và thông thường thì phân phối là một hệ thống nhằm đưa một hàng hóa, dịch vụ hoặc một giải pháp đến tay người tiêu dùng vào thời gian, địa điểm và hình thức mà người tiêu dùng mong muốn.
Tuy nhiên, hiểu theo cách bao quát và đầy đủ hơn thì phân phối là những quyết định đưa sản phẩm vào các kênh phân phối để tiếp cận, khai thác hợp lý nhu cầu thị trường và đồng thời cũng thực hiện việc đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng hiệu quả”. Một số yếu tố cơ bản cấu thành phân phối bao gồm: Người cung ứng (nhà sản xuất); Người tiêu dùng (người tiêu dùng cuối cùng); Người trung gian (các nhà buôn như nhà bán sỉ và bán lẻ, đại lý, môi giới); Hệ thống cơ sở vật chất (như kho tàng, bến bãi, phương tiên vận tải, cửa hàng,.) và hệ thống thông tin thị trường (bao gồm con người, công nghệ thông tin và thông tin thị trường nhằm thu thập, xử lý, phổ biến thông tin phục vụ cho mục tiêu của tổ chức). Như vậy, hai vấn đề chính của hoạt động phân phối là tổ chức kênh phân phối và tổ chức lưu thông. Theo quan điểm của nhà kinh tế học Corey cho rằng: “Kênh phân phối là một nguồn lực then chốt ở bên ngoài doanh nghiệp.
Thông thường phải mất nhiều năm mới xây dựng được và không dễ gì thay đổi được nó. Nó có tầm quan trọng không thua kém gì các nguồn lực then chốt trong nội bộ như: con người, phương tiện sản xuất, nghiên cứu.Nó là cam kết lớn của công ty đối với rất nhiều các công ty độc lập chuyên về phân phối và đối với những thị trường cụ thể mà họ phục vụ. Nó cũng là một cam kết về một loạt các chính sách và thông lệ tạo nên cơ sở để xây dựng rất nhiều những quan hệ lâu dài”. 8 Người sản xuất, quan tâm đến việc sử dụng các trung gian để đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng, nên định nghĩa kênh phân phối là hình thức di chuyển sản phẩm qua các loại hình trung gian khác nhau.
Người tiêu dùng lại định nghĩa kênh phân phối là hình thức liên kết lỏng lẻo của các công ty liên doanh để cùng thực hiện một mục đích thương mại. Người quản lý kênh định nghĩa kênh phân phối là một tổ chức các tiếp xúc (quan hệ) bên ngoài để quản lý các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu phân phối của doanh nghiệp trên thị trường. Trung gian phân phối là những người đứng giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng, họ sở hữu hoặc mang danh nghĩa sở hữu hoặc tham gia vào các giao dịch phân phối trực tiếp để nhận được phần lợi nhuận do đầu tư hiệu quả hoặc nhận phần thua lỗ do đầu tư kém hiệu quả khi thực hiện các chức năng trung gian phân phối. Các trung gian phân phối: nhà buôn ( bán sỉ và lẻ ), đại lý, môi giới.
Vì vậy, người trung gian lại định nghĩa kênh phân phối như một dòng chuyển quyền sở hữu sản phẩm khi chúng được mua bán qua các tổ chức khác nhau. Như vậy, kênh phân phối bảo hiểm là việc Công ty bảo hiểm triển khai bán hàng bằng nhiều hình thức đa dạng khác nhau từ kênh đại lý, kênh hợp tác với các Ngân hàng, công ty tài chính để phát triển và phân phối các sản phẩm bảo hiểm thông qua hệ thống này. Việc tham gia của ngân hàng, tổ chức tài chính có thể ở nhiều cấp độ khác nhau. Vai trò và chức năng của kênh phân phối 1.
Vai trò của kênh phân phối Theo Theo Trương Đình Chiến (2010) đưa ra các vai trò của kênh phân phối như sau: Kênh phân phối còn được xem là một công cụ cạnh tranh hiệu quả nhờ gia tăng hiệu quả cung ứng (như tiết kiệm nhờ quy mô,tăng khối lượng bán nhờ phân phối rộng khắp và nhanh chóng, hỗ trợ những nhà sản xuất chưa đủ nguồn lực để đưa hàng hóa hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng) giúp doanh nghiệp tạo lập và duy trì được trực tiếp đến tay người tiêu dùng, xây dựng quan hệ khách hàng), cân bằng nhu cầu hàng hóa và chủng loại giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng và gia 9 tăng hiệu quả giao dịch (nhu giảm chi phí giao dịch nhờ giảm số lần giao dịch, làm dễ quá trình tìm kiếm lợi thế cạnh tranh dài hạn trên thị truờng, trong khi chiến luợc về giá cả, sản phẩm, chiêu thị chỉ tạo đuợc lợi thế ngắn hạn và dễ dàng bị bắt chuớc bởi đối thủ cạnh tranh. Kênh phân phối là công cụ chính của doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối, góp phần làm thỏa mãn những nhu cầu cụ thể của nhóm khách hàng mục tiêu nhu sự tiện lợi về địa điểm ( tồn trữ sản phẩm gần nơi khách hàng cu trú tạo nên sự sẳn có cho việc mua sắm), tiện lợi về thời gian (bằng cách mở cửa nhiều giờ hơn để khách hàng mua thuận tiện), tiện lợi về chủng loại sản phẩm, tiện lợi về sở hữu và thanh toán, chuyển quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ đến nguời muốn sử dụng chúng. Chức năng kênh phân phối Theo Theo Truơng Đình Chiến (2010, kênh phân phối có ba chức năng lớn bao gồm: chức năng giao dịch, chức năng hậu cần và chức năng hỗ trợ. Thứ nhất, chức năng giao dịch bao gồm tiếp xúc, thuơng luợng và chia sẻ rủi ro.
Tiếp xúc: Tìm kiếm và truyền thông, giao tiếp với khách hàng. Ví dụ: Trên website (kênh phân phối trực tiếp) của hãng Honda (www.vn) cho phép khách hàng có thể tìm ra đuợc nhà cung cấp sản phẩm trong khu vực mà họ sinh sống, nơi họ có thể mua những chiếc xe theo đúng nhu cầu của họ. Đồng thời, khách hàng cũng tìm đuợc thông tin về giá cả, loại sản phẩm, tất cả dịch vụ kèm theo và hoạt động xã hội mà công ty tham gia tổ chức. Nhu vậy, kênh phân phối chuyển tải và chia sẻ thông tin của công ty đến khách hàng.
Thuơng luợng: Các thành viên trong kênh thực hiên đàm phán nhằm đạt đuợc sự thỏa thuận cuối cùng về giá cả và những điều kiện khác liên quan (chiết khấu, hoa hồng, khuyến mãi, bảo hành,.) để có thể thực hiện đuợc việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng sản phẩm. Chia sẻ rủi ro: chấp nhận những vấn đề không chắc chắn liên quan đến việc điều hành hoạt động của kênh phân phối. Cụ thể hơn, kênh phân phối phải gánh chịu một phần hay toàn bộ những rủi ro liên quan đến giá cả, thị hiếu tiêu 10 dùng,hàng tồn kho, bảo quản,. Ví dụ: Công ty TNHH San Hà (là một công ty chuyên mua bán - phân phối các loại thực phẩm tươi sống, đông lạnh và thực phẩm chế biến) có trung gian phân phối chủ yếu là các siêu thị lớn như BigC, Coop Mark, Metro, Family Foodmark.
và cửa hàng Vissan. Các cửa hàng và siêu thị này sau khi mua thực phẩm tươi sống-đông lạnh của công ty về phải bảo quản sản phẩm theo đúng quy trình, quy định của công ty; đồng thời cũng tự chịu trách nhiệm về sản phẩm đã quá hạn sử dụng không bán hết. Thứ hai, chức năng hậu cần: Theo định nghĩa của Hội đồng Quản lý Logistics Mỹ: “Hậu cần doanh nghiệp là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách tối ưu luồng chạy và hoạt động bảo quản của hàng hoá, dịch vụ và các thông tin liên quan từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ vì mục đích thoả mãn nhu cầu khách hàng”. Như vậy, nhiệm vụ của hậu cần doanh nghiệp là đưa hàng hóa,dịch vụ đến đúng chỗ, đúng số lượng, đúng thời gian trong điều kiện tốt nhất với chi phí chấp nhận được.
Và kênh phân phối là một bộ phận quan trọng tham gia thực hiện phần lớn nhiệm vụ ấy. Hai hoạt động chính mà kênh phân phối đảm trách trong chức năng hậu cần là phân phối hàng hóa và phân loại. Phân phối hàng hóa: quản lý tồn kho, vận hành kho và vận tải. Ví dụ: Kênh phân phối chủ yếu của Công ty cổ phần Phát hành sách Thành phố Hồ Chí Minh là hệ thống nhà sách Fahasa.
Nhờ hệ thống điện tử trao đổi số liệu mỗi ngày (giữa các cửa hàng trong hệ thống và giữa hệ thống với công ty) có thể biết được một ngày có bao nhiêu đơn hàng, khối lượng mỗi đơn hàng, thời gian đặt hàng, thời gian giao hàng, nhu cầu, thị hiếu thị trường,. để từ đó xác định vị trí kho; diện tích kho; khối lượng và thời gian lưu kho; tiến hành gom hàng theo khu vực;lựa chọn phương tiện vận chuyển trong nội bộ và đến khách hàng,. Phân loại: Ví dụ: Đối với mặt hàng Ngũ cốc dinh dưỡng, mỗi siêu thị đều trưng bày (trong cùng một khu vực) nhiều loại (theo chức năng, thành phần, mẫu mã,.) đến từ nhiều công ty khác nhau. Như ngũ cốc Vinapro và Vinasure của công 11 ty TNHH Thăng Long; Netsure và Netsure “light” của công ty cổ phần Bibica; Bột ngũ cốc ăn kiêng, Bột ngũ cốc Methy và Ngũ cốc dinh duống của công ty TNHH Thanh An, Ngũ cốc yến của công ty cổ phần Yen Việt,.
Thứ ba, chức năng hỗ trợ: Chức năng hỗ trợ giúp cho hoạt động phân phối đuợc thực hiện bởi các thành viên trong kênh bao gồm việc nghiên cứu thị truờng và cung cấp tài chính và trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn. Nghiên cứu thị truờng: Chức năng hỗ trợ góp phần mang lại sự đánh giá một cách chính xác về thói quen, tính cách,tâm lý, sở thích,. của khách hàng mục tiêu. Những thông tin khách hàng thu thập đuợc từ trung gian phân phối giúp cho nhà sản xuất lập đuợc kế hoạch phát triển sản phẩm đúng đắn và hoạt động truyền thông Marketing hợp lý.
Ví dụ: Khách hàng đến với các cửa hàng của Vinamilk chủ yếu là các bà mẹ, khi họ đến mua sản phẩm, nguời bán hàng có thể biết khách hàng cần loại sữa nào cho con của họ, mức giá bao nhiêu là hợp lý, thái độ - hành vi của họ truớc sản phẩm nhu thế nào. Để từ đó Vinamilk có những điều chỉnh cho phù hợp nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu khách hàng.