Chương 1: Tổng quan về hoạt động tài trợ thương mại của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động tài trợ thương mại tại Ngân hàng TMCP Quân đội. Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động tài trợ thương mại tại Ngân hàng TMCP Quân đội. 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƢƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƢƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm thƣơng mại quốc tế Thƣơng mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nƣớc thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế tối đa. Trao đổi hàng hoá là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những ngƣời sản xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia. Thƣơng mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nƣớc tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nƣớc.
Ngày nay, thƣơng mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lào động quốc tế. Vì vậy, thƣơng mại quốc tế nhƣ một tiền đề, một nhân tố phát triển kinh tế trong nƣớc trên cơ sở lựa chọn một cách tối ƣu sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế. Trải qua các hình thái kinh tế xã hội có sự thống trị của các chế độ Nhà nƣớc khác nhau, từ chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến đến chế độ tƣ bản chủ nghĩa và kể cả chế độ xã hội chủ nghĩa mới hình thành từ đầu thế kỷ này, các quan hệ sản xuất, trao đổi hàng hoá - tiền tệ đã phát triển trên phạm vi toàn thế giới, hình thành nên sự đa dạng, phức tạp của các mối quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó sôi động nhất và cũng chiếm vị trí, vai trò, động lực quan trọng nhất cho sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế mở của mỗi quốc gia và cho cả nền kinh tế thế giới là các hoạt động thƣơng mại quốc tế. Lý thuyết về lợi thế so sánh của nhà kinh tế học David Ricardo cho thấy một nƣớc có lợi thế tuyệt đối so với nƣớc khác về một loại hàng hoá, nƣớc đó sẽ thu đƣợc lợi ích ngoại thƣơng, nếu chuyên môn hoá sản xuất theo lợi thế tuyệt đối.
Năm 1817, trong tác phẩm nổi tiếng của mình “Những 8 nguyên lý của kinh tế chính trị” nhà kinh tế học cổ điển ngƣời Anh David Ricardo đã đƣa ra lý thuyết lợi thế so sánh, nhằm giải thích tổng quát chính xác hơn về cơ chế xuất hiện lợi ích trong thƣơng mại quốc tế. Nội dung bao gồm: Mọi nƣớc đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, bởi phát triển ngoại thƣơng cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nƣớc. Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất định của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nƣớc khác thông qua con đƣờng thƣơng mại quốc tế. Những nƣớc có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nƣớc khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nƣớc khác, vẫn có thể và có lợi khi tham gia vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nƣớc đều có những lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác.
Một trong những điểm cốt yếu nhất của lý thuyết lợi thế so sánh là những lợi ích do chuyên môn hoá sản xuất và thƣơng mại quốc tế phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phải là lợi thế tuyệt đối. Lợi thế so sánh là điều kiện cần và đủ đối với lợi ích của thƣơng mại quốc tế. Lợi ích thƣơng mại quốc tế bắt nguồn từ sự khác nhau về lợi thế so sánh ở mỗi quốc gia, mà các lợi thế so sánh đó có thể đƣợc biểu hiện bằng các chi phí cơ hội khác nhau của mỗi quốc gia, do đó lợi ích của thƣơng mại quốc tế cũng chính là bắt nguồn từ sự khác nhau về các chi phí cơ hội của mỗi quốc gia. Thƣơng mại toàn cầu tạo cơ hội cho ngƣời tiêu dùng và các nƣớc đƣợc tiếp xúc với hàng hoá, dịch vụ mà nƣớc họ không có.
Hầu nhƣ tất cả các loại sản phẩm bạn cần đều đƣợc tìm thấy trên thị trƣờng quốc tế: thực phẩm, quần áo, phụ tùng, dầu, đồ trang sức, rƣợu,vàng, cổ phiếu, tiền tệ và nƣớc. Sự phát triển của thƣơng mại quốc tế cũng làm tiền đề để phát triển các ngành dịch vụ khác nhƣ vận tải, du lịch, tƣ vấn, ngân hàng. Khái niệm về tài trợ thƣơng mại Tài trợ thƣơng mại (TTTM) bao hàm sự chuẩn bị sẵn sàng các phƣơng tiện tài chính và thay thế về mặt tài chính để hoàn tất nghĩa vụ thanh toán và 9 sản xuất trong quan hệ kinh tế đối ngoại cũng nhƣ đảm bảo các quá trình thành liên quan. Phạm vi tài trợ xuất nhập khẩu bao gồm tài trợ cho xuất khẩu (cả trong giai đoạn sản xuất) và tài trợ cho nhập khẩu trong thời gian từ ngắn hạn đến dài hạn.
Tài trợ thƣơng mại là tập hợp các biện pháp và hình thức hỗ trợ về tài chính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp hoặc các đơn vị kinh tế tham gia trong lĩnh vực Thƣơng mại quốc tế trong một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng thế giới. Nếu xét về mặt hình thức tài trợ thì tài trợ thƣơng mại đƣợc thực hiện dƣới hai hình thức: - Tài trợ thƣơng mại trực tiếp là tập hợp các biện pháp hoặc hình thức hỗ trợ trực tiếp tác động đến hoạt động kinh doanh thƣơng mại quốc tế của doanh nghiệp thƣờng đƣợc thực hiện thông qua việc cho vay ngắn hạn, trung, dài hạn để tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng, thay đổi dây chuyền công nghệ máy móc thiết bị, hoặc đƣợc thực hiện qua hình thức cung ứng dịch vụ tiền tệ, tín dụng ngân hàng. - Tài trợ thƣơng mại quốc tế gián tiếp là tập hợp các biện pháp hình thức hữu hiệu nhằm tạo ra môi trƣờng kinh doanh thƣơng mại quốc tế thuận lợi cho các doanh nghiệp nhƣ: chính sách thuế xuất nhập khẩu, chính sách tỷ giá hối đoái, môi trƣờng pháp lý ổn định, phù hợp với thực tiễn thƣơng mại quốc tế, chính sách lãi suất. Căn cứ vào ngƣời cung ứng tài trợ thì tài trợ thƣơng mại có thể chia thành: - Tài trợ thƣơng mại quốc tế của nhà nƣớc: đặc trƣng của hình thức này là tài trợ gián tiếp thông qua Ngân hàng trung ƣơng, các tổ chức tín dụng ngân hàng và phi ngân hàng, các cơ quan của chính phủ bằng các biện pháp thành lập các quỹ hỗ trợ, quỹ bình ổn giá, quỹ dự phòng rủi ro, quỹ xúc tiến phát triển, dƣới các hình thức bảo lãnh, tái chiết khấu, và thông qua chính sách tài chính - tiền tệ ở tầm vĩ mô.
10 - Tài trợ thƣơng mại quốc tế của các doanh nghiệp: với các công cụ sử dụng thƣờng là tín dụng thƣơng mại nhƣ hối phiếu trả chậm, thanh toán ghi sổ, ứng tiền trƣớc tiền bán, v.v Ngày nay, với quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng trong thƣơng mại quốc tế ở khu vực và trên thế giới của các NHTM khi tham gia vào hoạt động thƣơng mại quốc tế với tƣ cách là nhà tài trợ, cung ứng các dịch vụ tài trợ thƣơng mại đa dạng, linh hoạt, an toàn, đảm bảo tính cạnh tranh công bằng cho các hoạt động thƣơng mại quốc tế. Với tính chuyên nghiệp cao, tiềm lực tài chính mạnh và mạng lƣới cơ sở rộng khắp, các Ngân hàng thƣơng mại đóng vai trò ngày càng quan trọng khi là nhà tài trợ chủ yếu cho hoạt động thƣơng mại quốc tế. ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƢƠNG MẠI TTTM thƣờng gắn với việc trao đổi giữa đồng tiền của nƣớc này sang đồng tiền của nƣớc khác. Đồng tiền nội địa với chức năng là phƣơng tiện lƣu thông, phƣơng tiện thanh toán trong phạm vi một quốc gia sẽ không vƣợt ra khỏi giới hạn của nó đƣợc nếu nhƣ hai bên liên quan trong hợp đồng không có sự thoả thuận với nhau.
Bởi vì khi ký kết hợp đồng thƣơng mại, tín dụng. các bên phải đàm phán thống nhất đồng tiền nào đƣợc sử dụng để thanh toán giao dịch, nó có thể là đồng tiền của nƣớc ngƣời mua, tiền của nƣớc ngƣời bán hoặc một đồng tiền của một nƣớc nào đó đƣợc chọn để giao dịch thanh toán. Các đồng tiền đƣợc sử dụng trong TTTM thƣờng là các loại ngoại tệ mạnh có khả năng tự do chuyển đổi nhƣ USD, EUR, GBP, JPY. TTTM chủ yếu là thanh toán qua chứng từ, tách rời với sự di chuyển của hàng hoá từ nƣớc ngƣời bán đến nƣớc ngƣời mua.
TTTM có quan hệ trực tiếp đến cả bên mua lẫn bên bán. Nếu công tác TTTM đƣợc làm tốt sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động ngoại thƣơng phát triển, ngƣợc lại sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt động ngoại thƣơng. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƢƠNG MẠI Ngày nay, trong xu hƣớng toàn cầu hóa nền kinh tế và thƣơng mại quốc tế ngày càng phát triển thì TTTM đã trở thành một hoạt động cơ bản, không thể thiếu của các Ngân hàng thƣơng mại. Hoạt động TTTM của Ngân hàng 11 thƣơng mại là một mắt xích không thể thiếu đƣợc trong toàn bộ dây truyền thực hiện một hợp đồng ngoại thƣơng.
Thực hiện tốt vai trò trung gian thanh toán của mình trong hoạt động TTTM, Ngân hàng thƣơng mại không chỉ hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thúc đẩy sự phát triển giao thƣơng quốc tế mà còn gia tăng giá trị cho Ngân hàng về hình ảnh cũng nhƣ lợi nhuận. Vai trò của tài trợ thƣơng mại đối với nền kinh tế TTTM của ngân hàng thƣơng mại tạo điều kiện cho hàng hoá xuất nhập khẩu (XNK) lƣu thông trôi chảy. Thông qua tài trợ của ngân hàng, hàng hoá XNK theo yêu cầu của thị trƣờng đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế. TTTM của ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, là động cơ thúc đẩy nền kinh tế.
Doanh nghiệp có sự giúp đỡ của ngân hàng có vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, hiện đại hoá trang thiết bị làm tăng năng suất lao động. Doanh nghiệp phát triển chính đóng góp kinh tế đất nƣớc phát triển.