CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu trong nước Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có một số tác giả nghiên cứu về hoạt động mua bán và sáp nhập, tuy nhiên số lượng không nhiều và cũng chỉ tập trung vào một số khía cạnh nhất định của hoạt động mua bán. Hơn nữa, số lượng thương vụ cũng không nhiều và đa phần tập trung vào giai đoạn từ 2007 trở lại đây, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Do vậy, nghiên cứu hoạt động mua bán và sáp nhập và sự phát triển của hoạt động này trong toàn bộ lĩnh vực tài chính ngân hàng trong 3 nhóm tổ chức tài chính trung gian gồm ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán và các công ty bảo hiểm là một vấn đề mới, nhất là khi Việt Nam đang thực hiện chính sách mở cửa lĩnh vực tài chính, bãi bỏ các rào cản phân biệt giữa doanh nghiệp tài chính trong nước và các doanh nghiệp tài chính nước ngoài theo các cam kết quốc tế đã ký.
Nghiên cứu của Trần Ái Phương (2008) [25] đánh giá hoạt động mua bán và sáp nhập là cơ hội cho các ngân hàng gia tăng lợi nhuận, hình thành các nguồn thu nhập mới, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa, giúp tổ chức xây dựng và phát triển chiến lược quảng bá thương hiệu, nâng cao lợi thế kinh tế theo quy mô và đạt được những lợi thế kinh tế từ các cơ hội. Nghiên cứu đánh giá hoạt động mua bán và sáp nhập là quan trọng khi các ngân hàng nhỏ hợp nhất lại với nhau dưới cùng một chủ sở hữu, bộ máy quản lý, từ đó tạo cơ sở hỗ trợ tổ chức hợp nhất vận hành tốt hơn, tập trung hơn, các hoạt động kinh doanh sẽ có thể được điều tiết tốt hơn thông qua cơ chế chia sẻ nguồn lực và tạo thêm nhiều cơ hội mới khi sáp nhập hoặc hợp nhất. Tuy nhiên mặc dù hoạt động M&A trong ngành tài chính ngân hàng rất phổ biến trên thế giới nhưng lại khá mới tại thị trường Việt Nam, chính vì vậy Việt Nam cần tận dụng lợi thế là người đi sau để phát huy các lợi thế từ công cụ tài chính quan trọng này. Nghiên cứu tập trung vào các giải pháp phát triển hoạt động M&A theo hướng tự các ngân hàng nội địa sáp nhập lại với nhau để hình thành các tập đoàn tài chính nội địa.
Bài nghiên cứu chưa đề cập tới hoạt động M&A có yếu tố nước ngoài, mà trên thực tế M&A là công cụ tài chính có cả yếu tố trong nước và ngoài nước. Trong đó, một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên xu thế M&A toàn cầu là sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài. 10 Theo xu hướng phát triển chung và cam kết mở của thị trường tài chính ngân hàng của Chính phủ Việt Nam, không còn sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, do vậy, khi đề cập tới M&A cần phải quan tâm tới cả khía cạnh nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Vương Hoàng Quân, Trần Trí Dũng và Nguyễn Thị Châu Hà (2009) [35, tr 32- 45] tập trung nghiên cứu, đề cập đến khái niệm của hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A), các hình thức mua bán và sáp nhập, những thuận lợi và khó khăn của việc phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập tại thị trường Việt Nam.
Nghiên cứu đi sâu vào tình hình M&A ở Việt Nam liên quan tới số lượng và giá trị thương vụ, một số hạn chế và phân tích nguyên nhân. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở những khía cạnh cơ bản nhất, nêu một cách chung chung về hoạt động mua bán và sáp nhập, mà chưa đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể như lĩnh vực tài chính ngân hàng. Nghiên cứu của Nguyễn Hòa Nhân (2009) [12, tr 25-32] đã tiến hành nêu lên thực trạng hoạt động mua bán và sáp nhập tại thị trường Việt Nam, đánh giá sự cần thiết phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập bởi M&A là công cụ tài chính quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu chỉ ra những lợi ích cơ bản mà công cụ M&A hỗ trợ doanh nghiệp nhằm đảm bảo hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững, là tiền đề cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
Bởi, hoạt động M&A là một công cụ tài chính đặc biệt, nó thường xuất hiện nhiều trong giai đoạn khi nền kinh tế gặp khó khăn, các doanh nghiệp thua lỗ không thể tiếp tục tồn tại, điều này buộc các doanh nghiệp hoặc tuyên bố phá sản hoặc sử dụng công cụ M&A để liên kết với các đối tác mới để có thể tiếp tục tồn tại trên thị trường. Trong nghiên cứu, tác giả cũng nêu rõ cụm từ M&A hiện khá phổ biến và được gọi là “Sáp nhập (Mergers) và Thâu tóm (Acquisitions). Tác giả đã tiến hành hệ thống hóa các loại hình sáp nhập, nêu điểm giống và khác nhau giữa các loại hình sáp nhập. Bên cạnh đó, tác giả nêu lên những khó khăn, thách thức của hoạt động M&A trong tất cả các lĩnh vực tại thị trường Việt Nam trong giai đoạn 2005-2008.
Tuy nhiên, với dung lượng hạn chế của bài báo, việc đề cập toàn diện nhiều vấn đề M&A sẽ không đảm bảo được chiều sâu của các nội dung nghiên cứu. Do vậy, nhìn chung các thông tin tác giả đưa ra mang tính chất liệt kê, dàn trải của hoạt động mua bán và sáp nhập trong của nền kinh tế Việt Nam thời gian qua. Ngoài ra, phần giải pháp cũng chỉ mang tính chất chung chung, bài viết chưa nêu rõ giải pháp cụ thể để thực hiện các đề xuất nêu ra. 11 Nguyễn Mạnh Thái (2009) [13] dự báo trong thời gian tới sẽ có khoảng 500.000 doanh nghiệp Việt nam đặt mục tiêu thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài và phát triển thị trường.
Do vậy, đây chính là cơ hội và triển vọng cho một thị trường M&A phát triển. Nghiên cứu cho rằng, M&A là một sự lựa chọn tốt đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài khi họ đánh giá cao tiềm năng phát triển của Việt Nam. Việt nam đã, đang và sẽ mở rộng cánh cửa dịch vụ tài chính, viễn thông, đây là cơ hội cho thị trường M&A Việt Nam với các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống cơ sở pháp lý về hoạt động M&A còn nhiều bất cập, thiếu sự thống nhất, nằm rải rác trong nhiều văn bản, là rào cản trực tiếp cho việc tiếp cận M&A của các doanh nghiệp.
Nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở việc đề cập sự phát triển thị trường mua bán và sáp nhập ở tất cả các loại hình doanh nghiệp mà không tập trung riêng cho lĩnh vực tài chính ngân hàng. Nghiên cứu của tác giả Bùi Thanh Lam (2009) [1, tr 23-28] khẳng định M&A là phương thức hữu hiệu và là giải pháp tốt để cấu trúc lại hệ thống ngân hàng, tạo cơ sở tập trung nguồn lực, mở rộng phát triển mạng lưới, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, giảm chi phí, đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, “làm sạch” các doanh nghiệp yếu kém và là phương thức thu hút đầu tư trực tiếp và gián tiếp hiệu quả, thúc đẩy thị trường chứng khoán và thị trường quốc gia phát triển. Nghiên cứu chỉ tập trung vào thực trạng hoạt động mua bán và sáp nhập trong ngành ngân hàng, không đề cập tới tổng thể lĩnh vực tài chính ngân hàng. Trong nghiên cứu, tác giả tập trung vào các giải pháp mang tính pháp lý vĩ mô mà không đề cập tới các giải pháp khác ở khía cạnh vi mô.
Để tạo cơ sở cho M&A phát triển trên cơ sở thực trạng nghiên cứu, ngoài yếu tố pháp lý còn có rất nhiều yếu tố như bản thân doanh nghiệp tham gia vào hoạt động M&A, năng lực cán bộ công tác liên quan tới M&A và tư duy của doanh nghiệp trong việc minh bạch công bố các thông tin tài chính phục vụ cho công tác M&A. Nghiên cứu điển hình của Trịnh Thị Phan Lan và Nguyễn Thùy Linh (2010) [30] cho rằng sự hòa hợp về văn hóa là một trong những nhân tố quyết định tới sự thành công của một thương vụ M&A. Trong đó, sự hòa hợp văn hóa trong M&A không có nghĩa là sự xâm phạm nét riêng của tổ chức về văn hóa, mà nếu thật sự có sự “thôn tính” của nền văn hóa này với một nền văn hóa khác thì đó không gọi là hòa hợp hay hòa nhập văn hóa. Sự hòa nhập về mặt văn hóa chính là quá trình doanh nghiệp đi tìm 12 ngôn ngữ chung cho một cuộc sống chung hay sự tồn tại của doanh nghiệp sau khi sáp nhập hoặc hợp nhất.
Nghiên cứu chỉ ra sự hài hóa về văn hóa doanh nghiệp sẽ góp phần tới 36% sự thành công của một thương vụ M&A. Do hạn chế của một bài báo, tác giả không thể bao quát tất cả các vấn đề ảnh hưởng tới sự thành công hay thất bại của một thương vụ M&A mà chỉ tập trung vào yếu tố văn hóa. Bên cạnh yếu tố văn hóa còn có rất nhiều nhân tố tạo nên sự thành công hay thất bại của một thương vụ M&A như cách doanh nghiệp đối xử với nhân viên, cung cấp các thông tin liên quan tới thương vụ M&A một cách đầy đủ tới mọi nhân viên trong doanh nghiệp, cách thức điều hành của ban lãnh đạo mới. Nghiên của của Trần Đình Cung, Lưu Minh Đức (2010) [27] đã làm rõ các khái niệm về mua bán và sáp nhập trên góc độ quản trị doanh nghiệp, quản trị công ty.
Nhìn chung, tác giả chỉ tập trung phân tích về hoạt động mua bán và sáp nhập dưới góc độ quản trị doanh nghiệp với vai trò của nhà quản lý doanh nghiệp nói chung mà không đề cập tới các vấn đề mua bán và sáp nhập ở góc độ doanh nghiệp tài chính. Theo Vũ Thống Nhất (2011) [34] nội dung cơ bản của nghiên cứu đề cập tới hoạt động M&A trong ngành ngân hàng và một số nhân tố tác động tới hoạt động M&A của ngành ngân hàng. Trong đó, nghiên cứu nhấn mạnh một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng tới hoạt động M&A của ngành ngân hàng Việt Nam giai đoạn hiện nay là sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng ảnh hưởng tới quyết định M&A của doanh nghiệp. Do vậy, doanh nghiệp cần phải sáp nhập, hợp nhất nhằm tăng quy mô, thị phần.