PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thị trường chứng khoán Việt Nam được thành lập từ tháng 7/2000. Sau hơn 12 năm hoạt động, thị trường chứng khoán đã từng bước trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn của nền kinh tế, hỗ trợ tiến trình cổ phần hoá đồng thời góp phần huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cho đến nay có gần 1,3 triệu tài khoản giao dịch, trong đó có hơn 5.000 nhà đầu tư có tổ chức (chiếm khoảng 4% - theo nguồn Vsd.
Việc tham gia của các nhà đầu tư và thời gian gần đây có sự quay lại mạnh mẽ của giới đầu tư nước ngoài đã làm tăng khả năng luân chuyển vốn trong nước, đồng thời đã huy động một lượng vốn đầu tư nước ngoài đáng kể. Tính đến cuối năm 2012, giá trị danh mục đầu tư nước ngoài đạt 7 tỷ USD. Bên cạnh đó Thị trường Chứng khoán Việt Nam vẫn còn rất nhiều tồn tại: Thị trường hàng hóa (hàng hóa đề cập đến ở đây là các công ty niêm yết trên hai Sở) còn nghèo nàn mặc dù đã có sự gia tăng thêm nhiều công ty niêm yết trên hai Sở; Thị trường giao dịch chứng khoán mới đang ở giai đoạn sơ khai, các sản phẩm liên quan đến hoạt động nghiệp vụ chính của các công ty Chứng khoán còn ít và năng lực quản trị còn yếu kém. Chính vì vậy, cấu trúc lại thị trường chứng khoán, đa dạng hóa sản phẩm là hết sức cần thiết để đáp ứng yêu cầu về vốn dài hạn cho nền kinh tế; khắc phục những hạn chế yếu kém của thị trường; nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán; tăng cường thu hút đầu tư, luân chuyển vốn và đảm bảo quản trị rủi ro, an toàn hệ thống tài chính và phát triển các hoạt động của các công ty chứng khoán nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Công ty cổ phần chứng khoán quốc tế Hoàng Gia thành lập từ năm 2007. Trải qua gần 6 năm hoạt động, công ty đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển công ty vẫn còn tồn tại những hạn chế về chiến lược khách hàng; cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động kinh doanh còn nghèo nàn; 2 công tác nghiên cứu dự báo thị trường còn kém cũng như chính sách đào tào nguồn nhân lực vẫn chưa bài bản và được làm thường xuyên. Nếu những hạn chế đó tiếp tục và không có những giải pháp tháo gỡ thì chúng sẽ ảnh hưởng không nhỏ thậm chí còn cản trở đến hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư tại IRS, cụ thể giảm lượng khách hàng sử dụng sản phẩm cũng như không phát triển được lượng khách hàng mới đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh kết quả là hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư như hiện nay sẽ tiếp tục gặp khó khăn và giảm sút tác động tiêu cực tới mảng kinh doanh chính của Công ty.
Sau thời gian công tác tại công ty, tìm hiểu cũng như tham gia vào các hoạt động, nghiệp vụ của công ty, đặc biệt mảng Môi giới và Tư vấn Đầu tư, tôi thấy công ty cần phải có những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hoạt động kinh doanh xương sống này để có thể đứng vững trong điều kiện hiện nay. Do đó, nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp để nâng cao phát triển năng lực hoạt động Môi giới và Tư vấn Đầu tư là một việc làm cấp thiết vì nó quyết định tới sự tồn tại, phát triển của Công ty IRS trong giai đoạn hiện nay cũng như trong 5 năm tới. Đây là lý do đề tài: "Phát triển hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư của công ty cổ phần Chứng khoán Quốc tế Hoàng Gia (IRS) – Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp " được chọn để nghiên cứu trong luận văn. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu Trong thời gian gần đây đã có khá nhiều các đề tài nghiên cứu về thị trường chứng khoán.
Nhưng cho đến thời điểm này, các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về công ty chứng khoán cũng như đi sâu vào nghiên cứu phát triển các hoạt động nghiệp vụ của công ty chứng khoán vẫn đang còn rất ít. Các đề tài cũng chỉ mới dừng lại ở phần đánh giá tổng quan thị trường, tình hình chung của các công ty chứng khoán. Đặc biệt hơn nữa chưa có bất kỳ đề tài nào nghiên cứu về phát triển hoạt động Môi giới và Tư vấn Đầu tư của các công ty chứng khoán Hoàng Gia dưới góc nhìn với phương pháp nghiên cứu của Lịch sử Kinh tế. 3 Sau đây là một số đề tài đã viết: Đề tài “Giải pháp phát triển các hoạt động kinh doanh chứng khoán của CTCP chứng khoán Bảo Việt " của tác giả Trần Văn Sùng, trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Đề tài đã đánh giá rất sâu sắc và đưa ra các giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh chứng khoán, được minh họa bằng các biểu đồ rất rõ ràng và cuốn hút, nhưng phần cơ sở lý luận còn khá sơ sài và tính logic còn khá rời rạc. Đề tài viết bao trùm khá rộng các mảng hoạt động, mang tính chất khái quát, không đi sâu vào nghiệp vụ cụ thể, để đưa ra những đánh giá sắc bén. Hướng đề tài luận văn này không trùng với hướng đề tài của tác giả Trần Văn Sùng. Đề tài " Phát triển hoạt động môi giới Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam" của tác giả Trần Đình Chung, trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Tác giả đã có những nghiên cứu lý luận khá đầy đủ ở phần tổng quan về thị trường chứng khoán, hoạt động, vai trò các công ty chứng khoán, phát triển hoạt động môi giới Chứng khoán của các công ty chứng khoán. Nhưng ở phần giải pháp Phát triển hoạt động môi giới Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chỉ mới đưa ra các giải pháp chung chung, chưa dựa trên những hạn chế và nguyên nhân cụ thể được phân tích đánh giá ở phần thực trạng. Đề tài của tác giả Trần Đình Chung có đề cập đến phát triển hoạt động môi giới nhưng không bao gồm hoạt động tư vấn đầu tư và nơi tác giả khảo sát để viết đề tài là công ty chứng khoán Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán Quốc tế Hoàng Gia trong bối cảnh tái cấu trúc thị trường tài chính ở Việt Nam” của tác giả Ngô Hà Chi, trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Tác giả đã có nghiên cứu rất kỹ về năng lực cạnh trạnh, đi sâu vào tìm tòi, đưa ra các giải pháp rất sắc đáng để nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty chứng khoán IRS. Đề tài khảo sát nghiên cứu về IRS nhưng lại nghiên cứu về năng lực cạnh tranh không trùng với đề tài về phát triển hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư của luận văn. Đề tài “Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Quang Dũng, trường Đại 4 học Kinh tế Quốc dân. Cũng như đề tài của tác giả Ngô Hà Chi, ở đây, đi sâu vào đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp về năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, phần cơ sở lý luận khá yếu và đề tài cũng không trùng với luận văn này. Đề tài “Công ty chứng khoán ở một số nước trên thế giới” của tác giả Lê Thanh Thái. Bài viết hay, khá rộng, bao trùm những nội dung tổng quát, đi sâu về các mô hình chứng khoán các nước trên thế giới. Đề tài của tác giả Lê Thanh Thái không trùng với luận văn này.
Tuy các đề tài trên đề cập đến vấn đề thị trường và công ty chứng khoán nhưng mục tiêu và hướng nghiên cứu đến không tập trung vào giải quyết những vấn đề môi giới và tư vấn đầu tư ở công ty chứng khoán Quốc tế Hoàng gia. Do đó, đề tài của tôi không trung với bất cứ nghiên cứu nào trước đó. Kể từ khi thành lập, công ty cổ phần chứng khoán quốc tế Hoàng Gia chưa có bất kỳ một đề tài nào nghiên cứu về phát triển hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư được tiến hành một cách chính thống. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận văn là đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư giai đoạn 2013-2020 Mục tiêu cụ thể : - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư làm căn cứ phân tích và đánh giá thực trạng.
- Phân tích thực trạng hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư của IRS giai đoạn 2007-2012 để thấy được thành công và hạn chế, các thuận lợi và khó khăn cũng như các nguyên nhân gây hạn chế yếu kém làm cơ sở thực tiễn đề xuất giải pháp. - Đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư tại IRS. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Phát triển hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư. 5 Phạm vi không gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư tại Công ty IRS Phạm vi thời gian nghiên cứu: giới hạn thời gian nghiên cứu thực trạng hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư của IRS từ năm 2007-2012 và giải pháp đẩy mạnh hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư giai đoạn 2013-2020.
Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu đề tài, các phương pháp nghiên cứu: lịch sử, logic và phân kỳ lịch sử để phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của Công ty từ 2007, song song với phương pháp trên, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp - thống kê, các chỉ tiêu đánh giá toán học, đồ thị, bảng biểu nhằm đưa ra được những số liệu cụ thể, các so sánh giữa các chỉ tiêu với nhau, các lý luận phân tích đánh giá xu hướng tăng lên về mặt thời gian, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận, khách hàng, thu dịch vụ…hàng quý, năm. Trên cơ sở đó phân tích rút ra những kết luận và đề ra những giải pháp phù hợp, những kiến nghị cụ thể đối với hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư tại IRS.