Chương 1: Tổng quan về hoạt động bảo lãnh của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng- chi nhánh Kinh Đô Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng- chi nhánh Kinh Đô. Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do kiến thức và kinh nghiệm thực tế của người viết còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy, người viết kính mong nhận được sự đóng góp từ Quý thầy cô, các cán bộ ngân hàng và những người quan tâm đến lĩnh vực này để khóa luận được hoàn thiện hơn. Văn Minh Hà |Lớp TTQTA-K12 Khóa luận tốt nghiệp 3 Học viện ngân hàng CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 1. KHÁI NIỆM Cũng như khái niệm “bảo lãnh” nói chung, bảo lãnh ngân hàng có nhiều cách định nghĩa, tuy nhiên thống nhất về bản chất và cách thức thực hiện. Xét về góc độ học thuật, bảo lãnh ngân hàng là một hình thức “Tín dụng chữ ký- Signature Credit”, là hoạt động sinh lời mà không phải bỏ vốn của các ngân hàng. Điều 20 Luật các TCTD cũng có định nghĩa về bảo lãnh ngân hàng: “Bảo lãnh ngân hàng là một trong các hình thức cấp tín dụng, được thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay.” Gần đây nhất, Thông tư 28/2012/TT-NHNN quy định về Bảo lãnh ngân hàng ban hành ngày 02/10/2012 thay thế Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN chỉ rõ: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận”. Thông tư này đã có sự bổ sung về khái niệm bảo lãnh ngân hàng so với quyết định số 26/2006 trước đó khi chỉ rõ Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng. Như vậy, tuy có nhiều khái niệm về bảo lãnh ngân hàng nhưng các văn bản pháp lý đều có sự thống nhất cao, trong đó đều thể hiện bảo lãnh chính là một hình thức tài trợ của ngân hàng đối với khách hàng, sử dụng uy tín và năng lực tài chính của mình để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ đã cam kết từ trước. Có thể nói bảo lãnh đã làm mối liên hệ giữa các chủ thể trong một quan hệ kinh tế trở nên chặt chẽ hơn, qua đó thúc đẩy phát triển thương mại và tài chính.
Văn Minh Hà |Lớp TTQTA-K12 Khóa luận tốt nghiệp 4 Học viện ngân hàng 1. ĐẶC ĐIỂM Bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ nhiều bên, phụ thuộc lẫn nhau Từ khái niệm đã nêu, có thể thấy rằng trong một nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng thường có ít nhất 3 bên tham gia là: Bên bảo lãnh (Ngân hàng), Bên được bảo lãnh (Người yêu cầu), Bên nhận bảo lãnh (Người thụ hưởng). Bên bảo lãnh- The Guarantor: người phát hành thư bảo lãnh. Ngân hàng bảo lãnh phải là ngân hàng có uy tín, có khả năng tài chính, được bên thụ hưởng chấp nhận.
Bên được bảo lãnh (Người yêu cầu)- The Principal: là người yêu cầu ngân hàng bảo lãnh. Bên được bảo lãnh có thể là: Người bán (trường hợp bảo lãnh thực hiện hợp đồng), người mua (trường hợp bảo lãnh thanh toán), Người đi vay, người mua hàng trả chậm (Bảo lãnh thanh toán)… Bên nhận bảo lãnh (Người thụ hưởng)- Beneficary: là người có quyền thụ hưởng bảo lãnh do ngân hàng phát hành. Bên nhận bảo lãnh có thể là: Người mua (bảo lãnh thực hiện hợp đồng), người bán, người cho vay (Bảo lãnh thanh toán), chủ thầu (Bảo lãnh dự thầu)… Sơ đồ 1. Mối quan hệ 3 bên chính tham gia trong bảo lãnh ngân hàng BÊN BẢO LÃNH (2) (3) BÊN ĐƢỢC BẢO (1) BÊN NHẬN BẢO LÃNH LÃNH (1) Mối quan hệ gốc, hợp đồng gốc (underlying contract), là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh.
(2) Mối quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh (ngân hàng phát hành), trong đó bên được bảo lãnh làm đơn yêu cầu ngân hàng phát hành thư bảo lãnh cho đối tác trong hợp đồng gốc thụ hưởng. (3) Mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành thư bảo lãnh và người thụ hưởng. Khi hợp đồng bị vi phạm, ngân hàng bồi thường cho người thụ hưởng. Văn Minh Hà |Lớp TTQTA-K12 Khóa luận tốt nghiệp 5 Học viện ngân hàng Thư bảo lãnh là cam kết của bên bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh (người thụ hưởng) nhưng mối quan hệ này lại chịu sự ràng buộc chặt chẽ với hợp đồng cơ sở và đơn yêu cầu bảo lãnh.
Hợp đồng bảo lãnh không thể xuất hiện nếu không có hợp đồng cơ sở và hợp đồng cung cấp dịch vụ. Do đó, có thể thấy rằng, bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau. Tính độc lập của thư bảo lãnh Bảo lãnh ngân hàng tuy mang mối quan hệ nhiều bên, phụ thuộc lẫn nhau, song thư bảo lãnh lại có tính độc lập tương đối với hợp đồng cơ sở bởi việc thanh toán một thư bảo lãnh chỉ căn cứ vào các điều kiện và điều khoản quy định trong hợp đồng bảo lãnh. Việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh không phụ thuộc vào bất kỳ yếu tố nào ngoài giao dịch bảo lãnh.
Ngân hàng phải có trách nhiệm thanh toán cho bên thụ hưởng bảo lãnh khi bên này yêu cầu và có bằng chứng chứng minh sự vi phạm hợp đồng của bên được bảo lãnh. Ngân hàng không thể viện vào lý do thuộc về mối quan hệ giữa ngân hàng với bên được bảo lãnh để trì hoãn thanh toán cho bên thụ hưởng bảo lãnh. Sở dĩ nói tính độc lập của thư bảo lãnh là tương đối bởi tùy từng trường hợp mà tính độc lập có thể cao hay thấp, nó phụ thuộc vào điều kiện đi kèm. Nếu bảo lãnh yêu cầu đi kèm phán quyết của trọng tài hay toà án thì tính độc lập đã bị ảnh hưởng ít nhiều.
Giao dịch bằng chứng từ và chỉ dựa trên chứng từ Các hoạt động của ngân hàng mang một đặc thù đó là dựa trên cơ sở chứng từ. Bảo lãnh ngân hàng cũng vậy: là một cam kết bằng văn bản, người thụ hưởng đòi tiền dựa trên chứng từ và ngân hàng bồi thường cũng dựa trên chứng từ Bất kỳ khi nào người thụ hưởng bảo lãnh đến yêu cầu ngân hàng thanh toán, thì ngân hàng phải có trách nhiệm kiểm tra bề mặt chứng từ do người thụ hưởng xuất trình xem có tuân thủ các điều kiện và điều khoản của thư bảo lãnh hay không. Ngân hàng phát hành có quyền từ chối thanh toán với chứng từ bất hợp lệ hoặc với điều kiện hay điều khoản không đáp ứng. Nếu ngân hàng không thực hiện đúng trách nhiệm của mình, thanh toán cho bộ chứng từ không hợp lệ thì ngân hàng phải Văn Minh Hà |Lớp TTQTA-K12 Khóa luận tốt nghiệp 6 Học viện ngân hàng tự chịu rủi ro và không nhận được bồi hoàn từ người được bảo lãnh.
Như vậy, việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh độc lập với tình hình thực tế của hai bên là Bên nhận bảo lãnh và Bên được bảo lãnh, và chỉ dựa trên chứng từ. Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng Bảo lãnh là một hình thức tín dụng (tín dụng chữ ký), là hoạt động sinh lời mà không phải bỏ vốn của ngân hàng. Khi tiến hành cam kết phát hành thư bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng chưa phải xuất quỹ tiền ngay, do đó bảo lãnh được coi như là một hoạt động ngoại bảng vì nó chưa làm thay đổi bảng cân đối của ngân hàng ngay khi đó. Tuy nhiên, khi rủi ro thực sự xảy ra và ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bên thụ hưởng thì khoản chi này được xếp vào khoản tín dụng xấu, cơ cấu thành nợ quá hạn.
Khi đó, hoạt động bảo lãnh được chuyển từ tài sản ngoại bảng vào tài sản nội bảng. VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG 1. Vai trò Trong kinh doanh ngày nay, vai trò của bảo lãnh ngân hàng ngày càng to lớn vì nó hạn chế được rủi ro, khiến cho các bên tin tưởng nhau hơn, có thể coi là “Tấm giấy thông hành” cho các doanh nghiệp trong các giao dịch. Với vai trò như vậy, bảo lãnh đã có nhiều tác động tích cực đối với nhiều chủ thể trong nền kinh tế.
Đối với bên được bảo lãnh - Bảo lãnh ngân hàng giúp doanh nghiệp có đủ điều kiện, uy tín trong các giao dịch với khách hàng khi họ chưa tạo được niềm tin thực sự với đối tác. Đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp mới thành lập, nhờ có sự bảo lãnh uy tín từ ngân hàng mà doanh nghiệp có thể tìm được những nguồn vốn, nguồn tài trợ hoặc tham gia đấu thầu, được ứng trước tiền hàng… giúp cho doanh nghiệp có thể đầu tư mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường và dần dần tạo niềm tin, uy tín với đối tác. - Thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nghiêm túc và tuân thủ pháp luật. - Được ngân hàng tư vấn trong việc thực hiện hợp đồng hiệu quả, hợp pháp và mang lại lợi nhuận tối đa.
Văn Minh Hà |Lớp TTQTA-K12 Khóa luận tốt nghiệp 7 Học viện ngân hàng - Do phải trả phí, doanh nghiệp sẽ ý thức được phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn một cách tối đa. Đối với bên nhận bảo lãnh - Bảo lãnh ngân hàng giúp doanh nghiệp nhận bảo lãnh yên tâm hơn khi không có rủi ro về phía mình khi tham gia giao dịch, hơn thế còn giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí tìm hiểu đối tác, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. - Đảm bảo bù đắp rủi ro kịp thời cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của họ trong hợp đồng.