CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG ĐẠI LÝ TRONG PHÁT TRIỂN KINH DOANH CỦA CÔNG TY Ô TÔ TOYOTA VIỆT NAM 1. THỊ TRƯỜNG Ô TÔ VIỆT NAM VÀ SỰ GIA NHẬP CỦA CÔNG TY Ô TÔ TOYOTA VIỆT NAM 1. Thị trường Ô tô thế giới Chiếc ô tô chạy bằng động cơ xăng đầu tiên trên thế giới được chế tạo bởi Carl Benz, một kỹ sư người Đức và là người tiên phong trong ngành ô tô, vào năm 1885 tại thành phố Mannheim, Đức. Ông được cấp bằng sáng chế ngày 20 tháng 1 năm 1886 và trở thành nhà sản xuất ô tô đầu tiên vào năm 1888 ngay sau khi vợ ông, bà Bertha Benz, thực hiện thành công chuyến đi xa đầu tiên (từ Mannheim đến Pforzheim và trở về) vào tháng 8 cùng năm.
Thật vậy, chuyến đi của bà đã chứng minh với mọi người rằng chiếc xe không dùng sức ngựa kéo đó hoàn toàn phù hợp để sử dụng như phương tiện đi lại hàng ngày. Từ năm 2008, Bertha Benz Memorial Route, một đại lộ được đặt tên bà để tưởng nhớ sự kiện này. Không lâu sau đó, năm 1889 tại Stuttgart, Gottlieb Daimler và Wilhelm Maybach thiết kế một chiếc ô tô từ một chiếc xe linh tinh, tựa như một chiếc xe ngựa kéo được gắn động cơ. Họ thường được xem như những nhà phát minh của chiếc ô tô đầu tiên vào năm 1886.
Tuy nhiên, từ năm 1992, một người Ý thuộc trường đại học Padua, Enrico Bernardi, đã xin bằng sáng chế cho một động cơ một xy lanh chạy bằng xăng, công suất 0,024 mã lực (17,9 W) 122 cc. Động cơ này được ông gắn vào chiếc xe ba bánh của cậu con trai, và biến nó trở thành sản phẩm ứng cử cho chiếc ô tô đầu tiên và chiếc môtô đầu tiên trên thế giới. Năm 1892, Bernardi mở rộng chiếc xe ba bánh để có thể chở được hai người. Lịch sử ngành công nghiệp ô tô gắn liền với sự sản xuất và tiêu thụ hàng loạt.
Đầu thế kỷ 20, mô hình Ford trở thành hình mẫu cho nền kinh tế hiện đại: phân chia công việc (với sự chuyên môn hóa sản xuất, mô hình sản xuất dây chuyền phát triển bởi Taylor), sự tiêu chuẩn hóa và nâng cao sức mua của công nhân, nhằm thúc đẩy 5 tiêu dùng và tăng nhu cầu. Vào những năm 1970, một mô hình cạnh tranh rộ lên ở Nhật: mô hình Toyota. Mặc cho sự xâm chiếm của những mô hình kinh tế mới (sau mô hình Ford, hậu công nghiệp hóa, v.), công nghiệp ô tô vẫn tiếp tục giữ một vai trò chủ chốt trong nền kinh tế thế giới, nhất là với sự khẳng định vị thế của Châu Á (đặc biệt là Nhật Bản và Trung Quốc) và những nước công nghiệp mới (NPI). Những nhà sản xuất ô tô hàng đầu thế giới Bảng dưới đây bao gồm những nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giới.
Bảng xếp hạng các nhà sản xuất theo tổng sản lượng xe sản xuất vào cuối năm 2009 của OICA Bảng 1.1– Bảng xếp hạng các nhà sản xuất theo tổng sản lượng xe sản xuất vào cuối năm 2009 của OICA Xếp Sản lượng Thương Hiệu Trụ sở hạng (2008) 1 Toyota Motor Corporation (Japan) Nhật 9.780 2 General Motors Company ( United States) Mỹ 8.252 3 Volkswagen AG Đức 6.288 4 Ford Motor Company Mỹ 2.000 5 Honda Motor Company Nhật 3.700 6 Nissan Motor Company Nhật 3.400 7 PSA Peugeot Citroën S.407 8 Hyundai Motor Company Hàn Quốc 2.137 9 Suzuki Motor Corporation Nhật 2.325 Theo tạp chí Ô tô xe máy, số tháng 1 năm 2009 6 Những quốc gia sản xuất ô tô hàng đầu thế giới: Dưới đây là bảng xếp hạng 10 quốc gia có sản lượng ô tô lớn nhất thế giới và vị trí của Việt Nam Bảng 1.2 – Danh sách sản lượng ô tô của các quốc gia Xếp Nước/Khu vực 2009 2005 2000 hạng 1 Nhật Bản 12.517 8 Tây Ban Nha 3.862 Theo website: www. Thị trường ô tô Việt Nam Nền kinh tế Việt Nam nói chung, sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước đã có được nhiều thành tựu to lớn như: giảm đói nghèo, nâng cao mức sống cho người dân. Chính sách đổi mới cũng đã đưa nền kinh tế VN ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh VN là thành viên của khối ASEAN, tham gia AFTA và APEC, thực hiện có hiệu quả Hiệp định thương mại với Mỹ, trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), thị trường xuất khẩu của VN ngày càng mở rộng, xu hướng các nguồn vốn từ bên ngoài đổ vào VN ngày càng tăng qua các kênh đầu tư trực tiếp và gián tiếp… 7 Tất cả những nhân tố trên đã tạo điều kiện cho kinh tế VN phát triển.
Đây cũng là cơ hội tốt để VN thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển đất nước là đến năm 2020 về cơ bản, trở thành một nước công nghiệp. Gần 20 năm phát triển (1990-2008) tốc độ tăng trưởng kinh tế của VN liên tục giữ ở mức cao, tốc độ tăng GDP bình quân giai đoạn 1990-2008 là 7,56%/năm. Tốc độ tăng kinh tế cao, trong khi tốc độ tăng dân số được kìm hãm, đã dẫn đến mức thu nhập GDP bình quân trên đầu người mỗi năm một tăng. Nếu năm 1990, GDP trên đầu người của VN chỉ khoảng trên 100 USD, thì đến năm 2007, GDP/người đã đạt 835 USD, tăng trên 8 lần.
Năm 2008, GDP trên đầu người ước tính đạt khoảng 1.047 USD/người (xem Bảng 1). Với mức thu nhập này, VN lần đầu tiên thoát ra khỏi nhóm nước nghèo (nhóm nước có thu nhập thấp nhất). Theo cách phân loại của Ngân hàng Thế giới. Như vậy, năm 2008 đánh dấu mốc phát triển của nền kinh tế VN chuyển từ nhóm nước có thu nhập thấp nhất sang nhóm nước có thu nhập trung bình dưới.3 - Bảng chỉ số GDP của Việt Nam các năm gần đây GDP theo tỷ giá GDP tỷ giá theo đầu Năm Tăng trưởng (tỷ USD) người (USD) 2007 71,4 823 8,5% 2008 89,83 1024 6,2% 2009 92,84 1040 5,3% 2010 6.5% Theo website: www.vn của Tổng cục thống kê Việt Nam So với các nước trong khu vực, VN có mức tăng trưởng cao thứ ba, sau Trung quốc và Ấn độ.
Dưới đây là tốc độ tăng trưởng kinh tế VN so với tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới, kinh tế các nước và nhóm nước.4 - Tốc độ tăng trưởng kinh tế VN so với tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới và nhóm nước theo khu vực ĐVT:% Nước/nhóm nước 2007 2008 2009 Thế giới 5 3,7 4,2 Việt Nam 8,5 6,5 5,3 Trung Quốc 11,9 9,7 8,7 Ấn Độ 9,3 7,8 7,4 Mỹ 2,0 1,4 0,9 Nhóm nước đồng tiền chung Euro 2,6 1,2 0,9 Nhóm nước mới phát triển Châu Á 5,6 3,9 3,4 Nguồn: IMF <Quỹ tiền tệ quốc tế> Bảng 1.5- Xếp hạng của Việt Nam Tổ chức Nghiên cứu Xếp hạng Viện Kinh tế và Hoà bình Chỉ số Hoà bình Toàn cầu 39 trên 144 Heritage Foundation Chỉ số Tự do Kinh tế 142 trên 157 The Economist Chỉ số Chất lượng cuộc sống 61 trên 111 Phóng viên không biên giới Chỉ số tự do báo chí toàn cầu 155 trên 167 Minh bạch quốc tế Chỉ số nhận thức tham nhũng 111 trên 163 Chương trình Phát triển LHQ Chỉ số Phát triển Con người 109 trên 177 Diễn đàn Kinh tế Thế giới Báo cáo Cạnh tranh Toàn cầu 77 trên 125 Theo Thời báo kinh tế Việt Nam tháng 3/2010 Như vậy, có thể khẳng định rằng Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ và mức sống của người dân đang ngày càng được nâng cao với tốc độ ấn tượng. 9 Đây chính là cơ sở để Việt Nam trở thành thị trường vô cùng tiềm năng cho nhiều ngành hàng trong đó có ngành công nghiệp ô tô. Thị trường ô tô Việt Nam có nhiều tiềm năng, nhưng nhìn chung vẫn là một thị trường nhỏ bé, bởi mức sống thấp và sức mua hạn hẹp. Giá ô tô ở Việt Nam rất cao so với khu vực, mặc dù mức bảo hộ cho ô tô lắp ráp (sản xuất) trong nước lên đến 300%.
Điều đáng ngạc nhiên là, mặc dù giá cao nhưng thị trường ô tô trong nước luôn "nóng" với những đợt tăng giá mạnh và rất khan hiếm hàng. Đặc điểm lớn nhất của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam là thị trường nội địa quá nhỏ, mức sống thấp, sức mua hạn hẹp, trong khi có quá nhiều nhà lắp ráp, gồm 12 liên doanh và hơn 160 doanh nghiệp trong nước. Thị phần của các liên doanh chiếm đa số, chủ yếu là dòng xe cao cấp, còn doanh nghiệp Việt Nam bước đầu chỉ hướng vào dòng xe chuyên dụng, xe phổ thông. Với hy vọng xây dựng một ngành công nghiệp ô tô phù hợp điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam, Chính phủ đã dành cho ngành này những ưu đãi đặc biệt về thuế.
Ngoài những ưu đãi đã được quy định trong Luật đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước, các doanh nghiệp lắp ráp ô tô còn được hưởng ưu đãi về thuế GTGT, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB). Tuy nhiên, chính sách ưu đãi thuế đã bị doanh nghiệp lợi dụng để tăng giá bán, thu lợi nhuận cao thay vì đẩy mạnh tỷ lệ nội địa hoá đến 30-40% như cam kết để hình thành một nền công nghiệp ô tô thực sự. Để có cái nhìn tổng quan về thị trường ô tô Việt Nam, Bảng dưới đây mô tả danh sách nhà sản xuất ô tô là thành viên của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam-VAMA với sản lượng và thị phần tương ứng: 10 Bảng 1.6 – Sản lượng và thị phần các thành viên VAMA 2009 2010 (T1-7) STT Hãng Sản lượng Thị phần Sản lượng Thị phần 1 Toyota 30,109 25.4% Theo website: www.vn Có thể nói, sức tiêu thụ ô tô ở thị trường Việt Nam trong thời gian gần đây là rất ấn tượng. Trong tháng 6/2010, tổng doanh số của các thành viên VAMA đạt 10.052 xe, tăng 4% so với tháng 6 năm ngoái.
Trong đó, tiêu thụ dòng xe đa dụng và xe du lịch tăng lần lượt 53% và 10%; trong khi dòng xe thương mại giảm 13%. Tính gộp doanh số 6 tháng đầu năm 2010 của các thành viên VAMA đạt 50.278 xe, tăng 5% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó dòng xe du lịch và xe thương mại tăng 29% và 2%, còn dòng xe đa dụng giảm 10%. Hiện nay, phần lớn các nhà sản xuất ô tô trong nước vẫn trong tình trạng sản xuất không kịp đơn đặt hàng. Còn với thị trường ô tô nhập khẩu, cho dù Bộ Tài chính đã điều chỉnh tăng mức giá để tính thuế nhập khẩu, khiến cho giá xe nhập nguyên chiếc tăng từ 1.500 đô la Mỹ/chiếc, nhưng lượng xe nhập về Việt Nam vẫn không giảm.