Chương I: Tổng quan về quản trị quan hệ khách hàng trong doanh nghiệp Chương 2: Phân tích tình hình quản trị quan hệ khách hàng tại chỉ nhánh xe Ford tỉnh Quảng Ninh Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị quan hệ khách hàng tại chỉ nhánh xe Ford tỉnh Quảng Ninh 14 CHUONG 1 TONG QUAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG .TRONG DOANH NGHIEP 1. Khái quát về quản trị quan hệ khách hàng doanh nghiệp. Khái niệm về quản trị khách hàng Những nhận định về quản trị mối quan hệ khách hàng hiện nay không còn mới mẻ gì nữa. Ngày nay, nó được thừa nhận một cách rộng rãi bởi hệ quả là * gieo nhân nảo, gặp quả ấy”, bạn cư xử với khách hàng như thế nào thì điều đó sẽ ảnh hưởng tới chính lợi ích mà bạn nhận được trong tương lai.
Do đó, các công ty Việt Nam khôn ngoan hiện nay đang và sẽ đầu tư ngày càng nhiều đề tạo có được những lợi ích từ mối quan hệ vô giá đó. Các khách hàng Việt Nam cũng ngày càng hiểu biết hơn trước rất nhiề những dịch vụ mà họ nhận được và sẽ bỏ phiếu ủng hộ cho các công ty 'Việt Nam nào bằng túi tiền của họ dựa trên những kinh nghiệm đã có. Quản trị quan hệ khách hàng là gì? Tại sao phải quản trị quan hệ khách hàng? Đó chính là những thắc mắc hay được đặt ra bởi rất nhiều người chủ công ty, những người đang ngày ngày tiếp xúc, làm việc với khách hàng mà không biết phải làm việc đó thế nào cho hiệu quả. Chúng ta luôn có câu cửa miệng “khách hàng là thượng đế” bởi họ chính là nguồn sống của công ty, nhưng liệu bạn đã biết cách tạo dựng, duy trì và phát triển mối quan hệ với các thượng dé của mình hay chưa? Quản trị quan hệ khách hang (Customer Relationships Management) viét tắt là CRM.
Đây là hệ thống tông hợp các phương pháp giúp các công ty tiếp cận và giao tiếp với khách hàng một cách có hệ thống để đạt được hiệu quả cao nhất 'Hiện nhiều nhà kinh tế, nhà khoa học đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về CRM. Theo Philip Kotler (2009), CRM sử dụng công nghệ thông tin để thu thập dữ liệu, sau đó dữ liệu được sử dụng để phát triển nhằm tạo ra sự giao tiếp có tính cá nhân với khách hàng. Trong dài hạn, dữ liệu được phân tích và điều chỉnh liên tục nhằm gia tăng giá trị cho khách hàng lâu dài với doanh nghiệp. 15 Theo Kumar (2006), CRM 1a qué trình chiến lược lựa chọn khách hàng mà một công ty có thể phục vụ nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất và sự tương tác giữa công ty với các khách hàng.
Mục tiêu là để tối đa hóa giá trị hiện tại và tương lai của khách hàng cho công ty. Theo quan điểm của Marketing thì CRM là tập hợp các hoạt động mang tính chiế lược nhằm lựa chọn, thiết lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ tốt đẹp và âu dài giữa doanh nghiệp và khách hàng trên cơ sở làm thích ứng các quá trình tạo ra lợi ích của khách hàng và của doanh nghiệp. Khái niệm CRM ngày nay được xác định theo 3 quan điểm: Công nghệ, chu trình bán hàng và chiến lược kinh doanh. Quan điểm xem CRM như một giải pháp công nghệ được sử dụng tương đối phô biến.
Theo đó, CRM được xem như là một hệ thống cơ sỡ dữ liệu được tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau, dựa vào các phần mềm, phương pháp phân tích đề đưa ra những báo cáo, biểu bảng. Từ đó giúp các nhà quản trị có cái nhìn tông quát về khách hàng, thị trường va những vấn đề cần quan tâm đề phục vụ nhu cầu quản trị Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động CRM nhưng mục tiêu chính của CRM vẫn là thu hút và giữ được khách hàng bằng cách tạo ra những giá trị tối ưu phù hợp với những nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Ngoài ra, khi khách hàng hài lòng về chất lượng của công ty, đây sẽ là nguồn thông tin quảng cáo không. tốn chỉ phí và vô cùng hiệu quả cho công ty.
Thông qua hệ thống CRM, các thông. tin của khách hàng sẽ được cập nhật và lưu trữ. Dựa vào những thông tin này, công ty có thể phân tích và nhận dạng được những khách hàng tiềm năng và lâu dài để có thé dé ra những chiến lược chăm sóc khách hàng hợp lý. L12 3 in amd ¿ nà Mục đích căn bản của CRM, cũng giống như hoạt động bắt kỳ nào của công.
ty đó là gia tăng lợi nhuận. CRM giúp cho công ty cung cấp dịch vụ tốt hơn cho. khách hàng nhằm đương đầu với đối thủ cạnh tranh. CRM không chỉ cải thiện dịch vụ cho khách hàng, hoạt động CRM tốt còn có khả năng giảm chỉ phí, giảm sự lãng phí và làm giảm cả những than phiền của khách hàng về sản phâm dịch vụ của công 16 ty.
Hiêu quả của CRM cũng làm giảm căng thẳng cho nhân viên và nhờ đó cải thiện và tăng cường năng suất lao động. CRM cũng giúp công ty có được kết quả nghiên cứu thị trường kịp thời, mở ra các kênh thông tin với khách hàng và đảm bảo có được thông tin trực tiếp về thị trường sản phẩm/ dịch vụ qua ý kiến phản hồi củ khách hàng. Hoạt động CRM tốt cũng giúp công ty giữ được khách hàng trung thành, lảm việc mắt khách hàng và thu hút nhiều khách hàng mới hơn từ việc tăng. mức độ hài lòng của khách hàng, thiêu sung đột và tạo động lực cho nhân Nhìn chung, quá trình cung cấp dịch vụ và hoạt động kinh doanh của công ty sẽ có hiệu quả cao hơn.
Nội dung quản trị quan hệ khách hàng. Nhận diện khách hàng. Để tạo quan hệ với bắt cứ khách hàng nào, một doanh nghiệp cần biết nhân diện được khách hàng. Do đó, trước hết phải biết được phạm vi giới hạn, tạo cơ hội, lập thứ tự ưu tiên để nhận diện khách hàng cá nhân.
Các doanh nghiệp sử dụng nhiều chiến lược để tìm hiểu những người giữ vai trò khác nhau trong tổ chức mua sản phẩm của mình. Họ tổ chức những cuộc gặp gỡ nhân viên, tham gia triển lãm. thương mại, trao đổi danh thiếp, tai trợ những hội thảo, tổ chức những cuộc tiếp đãi liên quan đến công việc. Nhưng phương thức đơn giản để nhận diện “quan hệ trong quan hệ” ở khách hàng doanh nghiệp là cung cấp một dịch vụ hay lợi ích cho khách hàng.
Dịch vụ hay lợi ích đó giúp nhận ra đầy đủ những người có vai trò khác. nhau khi chính họ thể hiện những đặc điểm của mình và chủ động tham gia vào quan hệ. Phân loại theo giá trị khách hàng 'Thực tế đã chứng minh những khách hàng khác nhau có những đóng góp, lợi ích đối với công ty cũng khác nhau. Vì vậy việc phân loại khách hàng thành nhiều cấp, một mặt đáp ứng tốt hơn nhu cầu của từng nhóm khách hàng đồng thời chỉ ra 17 cho công ty những khách hàng giá trị nhất, từ đó công ty cần có những chính sách phủ hợp nhằm duy trì và phát triển bền vững hơn mối quan hệ với khách hàng.
Giá trị khách hàng chính là những giá trị kinh tế mà khách hàng mang lại cho doanh nghiệp, được thể hiện qua lợi nhuận ròng. Giá trị của khách hàng được đánh giá dựa trên 2 khía cạnh đó là giá trị hiện tại và giá trị tiềm năng. Giá trị hiện tại của một khách hàng là giá trị của dòng đóng góp tài chính và phi tài chính kỳ vọng trong tương lai của khách hàng cho công ty với giả định công việc kinh doanh không thay đồi. Giá trị tiềm năng của một khách hàng là tắt cả các giá trị mà khách hàng có khả năng thể hiện nếu công ty áp dụng có ý thức các chiến lược nhằm thay đổi hành vi của họ trong tương lai.
Giá trị của khách hàng được tính toán chủ yếu dựa trên những đóng góp tài chính, trong khi những đóng góp phi tài chính như giới thiệu khách hàng mới, góp ý. cũng mang lại giá trị kinh tế cho doanh nghiệp thì lại rất khó hoặc không thể đo. Ngoài ra để xem xét lòng trung thành của khách hàng công ty có thể đo lường thời gian mà khách hàng bắt đầu mua hàng của công ty cho đến hiện tại. Nếu khách hàng mua từ lâu nay và hiện nay vẫn còn tiếp tục duy trì quan hệ với công ty thì đó là khách hàng quen, khách hàng lâu năm của công ty.
Tuy nhiên cần phân biệt những khách hàng có thời gian quan hệ lâu với công ty những số lần mua mỗi năm thì rất ít và mua với số lượng ít. Phân loại khách hàng theo nhu cầu “Trong thực tế khách hàng không biết hoặc không quan tâm giá trị của họ đối với công ty. Khách hàng chỉ muốn vấn đề của họ được giải quyết. Đó là lý do vi sao cần phải phân loại khách hàng theo nhu cầu.
Vì vậy công ty cần phải đặt mình vào. vị trí của khách hàng để biết được nhu cầu mua hàng xuất phát từ động cơ nào từ đó phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Việc thông qua các phản hồi có thể đoán được những nhu cầu của khách hàng trong tương lai. Giá trị của sự phân biệt theo nhu cầu chỉ được thừa nhận khi 18 nó hữu ích trong việc ảnh hưởng đến hành vi khác nhau của khách hàng.
Tuy nhiên nhu cầu thì mang tính chat tinh huống, thay đổi theo thời gian có sự tương quan với giá trị khách hàng. Đối với người tiêu dùng, có những niềm tin mạnh mẽ thiên về tâm lý, giai đoạn sống, tâm trạng, mong muốn. Với khách hàng doanh nghiệp, có những giai đoạn kinh doanh khác nhau, báo cáo tài chính, những kiểu ra quyết định, hay những kiểu tổ chức khác nhau. (không kể những động cơ của cá nhân trong tổ chức khách hàng, bao gồm người ra quyết định, người phê duyệt, người xem xét.hay những bên liên quan có ảnh hưởng đến hành vi doanh nghiệp).
Tương tác với khách hàng. Tương tác là sự hợp tác trong đó doanh nghiệp và khách hàng cùng tạo dựng một giao dịch có lợi cho cả hai phía và cho những giao dịch tiếp theo. Tương tác có tính hai chiều đó là việc thu thập thông tin khách hàng và thu thập các phản hồi từ khách hàng. Mỗi khách hàng có sự yêu thích khác nhau đối với các phương tiện tương tác, kênh truyền thông riêng có thể là email, web, điện thoại đại diện bán hàng.
Việc phân tích tương tác với khách hàng giúp doanh nghiệp.