Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LƯU KHO TRONG CHUỖI CUNG ỨNG VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH ABC 1. Lý thuyết chuỗi cung ứng và quản lý lưu kho trong chuỗi cung ứng 1. Chuỗi cung ứng 1. Định nghĩa chuỗi cung ứng cơ bản Khi kinh tế thế giới phát triển, các công ty và doanh nghiệp không chỉ giới hạn kinh doanh và sản xuất trong các thị trường nhỏ mà vươn ra toàn thế giới, và đặc biệt khi vấn đề kinh tế về sự giới hạn tài nguyên cũng như mục tiêu tối đa lợi nhuận được đặt ra như vấn đề sống còn thì chuỗi cung ứng thể hiện vị thế ngày càng quan trọng trong chiến lược hoạt động của các công ty.
Chuỗi cung ứng đã xuất hiện từ rất sớm với qua thuật ngữ “hậu cần”. Trong chiến tranh, bộ phận hậu cần đóng góp vai trò quan trọng trong việc đảm bảo năng lực tác chiến của các đội quân bằng việc lên kế hoạch, tổng hợp, vận chuyển và phân phối lương thảo đúng lúc và hợp lý tới các bộ phận. Còn với các doanh nghiệp, trong một thời gian dài, chuỗi cung ứng được bó gọn trong hoạt động thu mua, phân phối và bảo hành và từ “hậu cần” (logistic/ operations management) được các doanh nghiệp sử dụng cho quá trình này. Tuy nhiên, với sự phát triển của kinh tế và việc các công ty phải giải quyết các bài toán về chiến lược hoạt động và chi phí, thuật ngữ “hậu cần” không còn đáp ứng được việc mô tả đầy đủ hoạt động và quy trình từ khi lên kế hoạch kinh doanh, thu mua nguyên liệu tới khi thành sản phẩm tới tay khách hàng cuối cùng và các dịch vụ sau khi mua cho người tiêu dùng.
Để thỏa mãn nhu cầu thực tế, thuật ngữ “chuỗi cung ứng” đã được nêu ra để thay thế cho thuật ngữ “hậu cần” từ cuối những năm 80 và trở nên phổ biến từ đầu những năm 90 của thế kỷ 20. So sánh nội dung của hậu cần và chuỗi cung ứng, ta nhận thấy có nhiều nét khác biệt, trong đó có sự khác biệt trong phạm vi và chức năng của hai hoạt động này. Có thể coi rằng chuỗi cung ứng thực tế là sự mở rộng của hậu cần từ một đơn vị sang một hệ thống, với hoạt động bao quát hơn. Luan van 7 Chi tiết sự khác biệt được thể hiện trong bảng so sánh sau: Bảng 1.1: So sánh thuật tính chất của hậu cần và chuỗi cung ứng Hậu cần Chuỗi cung ứng (Logistic) (Supply chain) Phạm vi Các hoạt động xảy ra trong Liên quan tới hệ thống các công phạm vi một tổ chức riêng lẻ ty làm việc với nhau và kết hợp các hoạt động để phân phối sản phẩm đến thị trường Chức năng Tập trung vào sự quan tâm Tất các các vấn đề về hậu cần đối với các hoạt động như thu nhưng thêm vào các hoạt động mua, phân phối và bảo hành khác như tiếp thị, phát triển sản phẩm mới, tài chính và dịch vụ khách hàng Là một phần công việc của Là một hoạt động xuyên suốt chuỗi cung ứng trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh (Nguồn: Học viên tự tổng hợp) Nghiên cứu riêng về chuỗi cung ứng, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng, trong đó phổ biến nhất là các định nghĩa: “Một mạng lưới các tổ chức có mối quan hệ với nhau thông qua các liên kết trên và liên kết dưới bao gồm các quá trình và hoạt động khác nhau để tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm hoặc dịch vụ đến tay người tiêu dùng cuối cùng” – (Christopher 1992).
“Chuỗi cung ứng không chỉ là một chuỗi của các doanh nghiệp với nhau, mà là mối quan hệ thương mại giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, và quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau” – (D. “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất Luan van 8 và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng” – (Chopra Sunil và Pter Meindl 2001). “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng” -(Ganesham, Ran and Terry P.
Tổng hợp từ các định nghĩa trên, ta có định nghĩa chung về chuỗi cung ứng: “Chuỗi cung ứng là sự phối hợp của sản xuất, lưu kho, địa điểm và vận chuyển giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng nhịp nhàng và hiệu quả các nhu cầu của thị trường.” Chuỗi cung ứng luôn hàm chứa tính năng động và thể hiện trong dòng chảy sản phẩm và tài chính giữa các giai đoạn khác nhau trong tổng thể chuỗi. Với mọi chuỗi cung ứng, mục tiêu quan trọng nhất là tối đa tổng giá trị mà chuỗi tạo ra. Giá trị này được tạo ra từ sự chêch lệch giữa giá trị sản phẩm mà khách hàng mua với tổng chi phí phát sinh trong chuỗi để đáp ứng nhu cầu khách hàng. Với doanh nghiệp, chuỗi cung ứng có ý nghĩa như sau: Nắm bắt, quản lý các hoạt động cần thiết cho việc điều phối lưu lượng sản phẩm và dịch vụ nhằm phục vụ khách hàng cuối cùng được tốt nhất.
Cải tiến hiệu quả hoạt động của tổ chức. Đáp ứng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Đáp ứng nhu cầu và cách thức cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo xu hướng toàn cầu, ngày càng nhiều hoạt động kinh doanh được thực hiện tại đa quốc gia, kinh doanh xuyên quốc gia được thực hiện, thì mỗi công ty sẽ dần trở thành một bộ phận trong các chuỗi cung ứng toàn cầu lớn, và vì vậy, vai trò của chuỗi cung ứng ngày càng trở lên quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.
Các thành phần trong chuỗi cung ứng cơ bản Ở mỗi ngành hàng, chuỗi cung ứng được điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm ngành hàng, mục tiêu chiến lược kinh doanh, thị trường phân phối, …, và chuỗi cung Luan van 9 ứng sẽ bao gồm các thành phần tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp được xây dựng để đáp ứng nhu cầu khách hàng và người tiêu dùng. Những thành phần trong chuỗi cung ứng thông thường sẽ bao gồm: nhà sản xuất, nhà cung cấp, đại lý bán lẻ, khách hàng, kho bãi, vận tải,… Về lý thuyết, một chuỗi cung ứng cơ bản sẽ bao gồm các thành phần sau: Khách hàng Đại lý bán lẻ Nhà phân phối Nhà sản xuất Nhà cung cấp nguyên liệu thô Nhà cung cấp Đại lý bán lẻ Nhà sản xuất Nhà phân phối Khách hàng Nhà cung cấp Đại lý bán lẻ Sơ đồ 1.1: Mô hình chuỗi cung ứng cơ bản (Nguồn: Nguyễn Công Bình, 2015) Trong đó: Nhà cung cấp: Là nhà cung cấp dịch vụ/ nguyên vật liệu cho các nhà sản xuất hoặc cung cấp một hoạt động dịch vụ cho nhà sản xuất mà họ cần. Nhà sản xuất: Là các công ty làm ra sản phẩm/ dịch vụ, bao gồm các công ty sản xuất nguyên vật liệu hoặc thành phẩm. Nhà phân phối: Là các công ty mua lượng lớn sản phẩm từ các nhà sản xuất và phân phối lại cho hệ thống bán lẻ.
Số lượng phân phối thường là số lượng lớn hơn nhiều so với lượng người tiêu dùng thường mua. Đại lý bán lẻ: Là hệ thống nhánh phân phối sản phẩm, có nhiệm vụ đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Khách hàng: Là bất kỳ cá nhân/ công ty nào mua và sử dụng sản phẩm. Luan van 10 Khách hàng là thành phần cuối cùng của chuỗi cung ứng và đóng vai trò vô cùng quan trọng vì chuỗi cung ứng có hiệu quả hay không được đánh giá thông qua sự phản hồi của khách hàng.
Các thành phần trên hoạt động theo một quy trình liền mạch và bất kỳ vấn đề phát sinh đều gây ảnh hưởng tới toàn bộ chu trình cung ứng. Xem xét tổng quát, mỗi thành phần trong chuỗi vừa là khách hàng của thành phần phía trước trong chuỗi, nhưng cũng là nhà cung cấp cho thành phần ở tiếp phía sau trong chuối, cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Các công đoạn trong chuỗi cung ứng Trong chuỗi cung ứng, gồm bốn hoạt động chính là Hoạch định, Tìm kiếm nguồn hàng, Sản xuất và Phân phối.2: Các hoạt động trong chuỗi cung ứng (Nguồn: Nguyễn Công Bình, 2015) Luan van 11 a) Hoạch định: Đây là bước đầu tiên trong hoạt động của chuỗi cung ứng và đóng vai trò quan trọng trong việc định hình kế hoạch và tổ chức hoạt động cho toàn bộ chuỗi cung ứng của doanh nghiệp. Hoạt động hoạch định được cấu thành từ ba hoạt động chính, bao gồm: Dự báo lượng cầu: Dự báo lượng cầu tiềm năng trên thị trường để tổ chức sản xuất phù hợp, tránh dư thừa và tối đa hiệu quả sản xuất.
Định giá sản phẩm: Định giá sản phẩm phù hợp để đảm bảo cân bằng giữa mục tiêu lợi nhuận với mục tiêu cạnh tranh thị trường, bởi lẽ giá cả hợp lý luôn là mối quan tâm hàng đầu của khách hàng khi mua sản phẩm. Quản lý lưu kho: Bản chất của quản lý lưu kho là quản lý mức độ và số lượng hàng lưu kho của doanh nghiệp. Mục tiêu chính là đảm bảo lượng hàng đủ để cung cấp cho thị trường trong khi giảm tới mức thấp nhất chi phí lưu kho liên quan trong hoạt động của doanh nghiệp. b) Tìm kiếm nguồn hàng: Trong hoạt động tìm kiếm nguồn hàng, doanh nghiệp sẽ phân tích các nhà phân phối và lựa chọn được nhà cung cấp phù hợp nhất với thực tế.
c) Sản xuất: Đây là công đoạn quan trọng trong toàn chuỗi cung ứng vì là quá trình chuyển đổi nguồn lực đầu vào thành sản phẩm, là sự thể hiện ra thành phẩm từ kết quả của các công đoạn trên và quyết định lợi nhuận của công ty sẽ đạt được. Hoạt động được cấu thành từ ba hoạt động chính là Thiết kế sản phẩm, Lập quy trình sản xuất và Quản lý phương tiện. d) Phân phối: Hoạt động cuối cùng trong chuỗi cung ứng là hoạt động phân phối - đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng. Có ba hoạt động thành phần trong hoạt động phân phối, bao gồm: Luan van 12 Quản lý đơn hàng: Quản lý đơn hàng của khách hàng để đảm bảo giao đúng sản phẩm, đúng số lượng, đúng thời điểm cho đúng khách hàng.
Lập lịch biểu giao hàng: Quản lý lịch giao hàng để đáp ứng đúng thời gian giao hàng và sự tối đa hiệu quả của toàn bộ hệ thống giao nhận.