CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ 1.1 Khái niệm kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ Theo Luật Giao thông đường bộ Việt Nam (2008) quy định: “Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ gồm công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ”. Như vậy có thể thấy, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ rất đa dạng, gồm nhiều bộ phận khác nhau, mang cả hai hình thái vật chất và hình thái phi vật chất. “Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải là hệ thống những công trình vật chất kỹ thuật, các công trình kiến trúc và các phương tiện về tổ chức cơ sở hạ tầng mang tính nền móng cho sự phát triển của ngành giao thông vận tải và nền kinh tế”.2 Khái niệm phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ Theo Phạm Hoài chung (2012): Phát triển là một quá trình vận động đi lên, lâu dài, luôn thay đổi và xu hướng thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện. Từ đó, khái niệm phát triển kinh tế cũng được lý giải như là một quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế trong một thời gian nhất định.
GTVT là một ngành sản xuất vật chất độc lập và đặc biệt của nền kinh tế quốc dân vì nó không sản xuất ra hàng hoá mà chỉ lưu thông hàng hoá. Đối tượng của vận tải chính là con người và những sản phẩm vật chất do con người làm ra. Chất lượng sản phẩm vận tải là đảm bảo cho hàng hoá không bị hư hỏng, hao hụt, mất mát và đảm bảo phục vụ hành khách đi lại thuận tiện, an toàn, nhanh chóng và rẻ tiền. Trong vận tải đơn vị đo lường là tấn/km, hành khách/km.
Sản phẩm giao thông vận tải không thể dự trữ và tích luỹ được. Vận tải chỉ có thể tích luỹ được sức sản xuất dự trữ đó là năng lực vận tải. Mặt khác sản phẩm này cùng được “sản xuất” ra và cùng được “tiêu thụ”. 9 GTVT là một ngành sinh sau đẻ muộn so với các ngành sản xuất vật chất khác như công nghiệp, nông nghiệp nhưng nó có vai trò hết sức quan trọng là tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông, góp phần tích cực phát triển KT – XH.
Theo Rostow (1960): “Giao thông là điều kiện tiên quyết cho giai đoạn cất cánh phát triển”. Hilling và Hoyle (Transportan development London,1993) thì cho rằng “Giao thông có vai trò liên kết sự phát triển kinh tế với quá trình tiến lên của xã hội”. Kinh tế – xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu vận tải ngày càng gia tăng cả về lượng lẫn về chất. Giao thông vận tải trong thế kỷ 21 phát triển hết sức nhanh chóng góp phần đẩy mạnh nền kinh tế thế giới, trong khu vực và mỗi quốc gia tiến nhanh, vững chắc.
Ngành GTVT thu hút một khối lượng lớn lao động đủ mọi trình độ góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Giao thông vận tải thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và là cầu nối giúp các ngành kinh tế phát triển và ngược lại. Ngày nay, vận tải được coi là một trong những ngành kinh tế dịch vụ chủ yếu có liên quan trực tiếp tới mọi hoạt động sản xuất và đời sống của toàn xã hội. Nhờ có dịch vụ này mới tạo ra được sự gặp gỡ của mọi hoạt động KT – XH, từ đó tạo ra phản ứng lan truyền giúp các ngành kinh tế cùng phát triển.
Ngược lại chính sự phát triển của các ngành kinh tế lại tạo đà thúc đẩy ngành giao thông vận tải phát triển. Nhà kinh tế học Johnson (The organization of space in developing countries – USA, 1970) cho rằng: “Mạng lưới đường là một trong các nhân tố cơ bản nhất để nâng cao chức năng kinh tế khu vực”. Ông còn nhận định “Một trong các nguyên nhân làm cho sản xuất của các nhà máy ở thành thị đình đốn chính là do đường sá, cầu cống dẫn đến nơi tiêu thụ quá thiếu và xấu. Đây cũng chính là nguyên nhân buộc người nông dân phải bán sản phẩm của mình ngay tại nơi thu hoạch hay tại nhà cho các lái buôn với giá rẻ”.
Chúng ta tán thành nhận định đó và kết luận: Sự thiếu thốn một hệ thống các loại đường giao thông đạt tiêu chuẩn là nguyên nhân cơ bản của tình trạng sản xuất yếu kém của một vùng lãnh thổ hoặc một vùng. Một hệ thống giao thông thuận tiện, đảm bảo sự đi lại, vận chuyển nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ sẽ đảm đương vai trò mạch máu lưu thông làm cho quá trình sản xuất và tiêu thụ được liên tục và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh ở mọi khu vực kinh tế. 10 Phát triển KCHTGT đường bộ là sự biến đổi tích cực về quy mô, số lượng và chất lượng của hệ thống KCHTGT đường bộ thông qua hoạt động quản lý, đầu tư, khai thác có hiệu quả như xây dựng công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và HLATĐB, nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra thêm các tài sản vật chất, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu vận tải hành khách, hàng hóa, tạo động lực phát triển KT – XH (Phạm Hoài Chung, 2012).3 Đặc điểm của kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ Theo Cù Thanh Thủy (2018): Do KCHTGT đường bộ là một bộ phận của KCHTKT – XH nên KCHTGT đường bộ cũng có những đặc điểm của kết cấu hạ tầng KT – XH nói chung, đồng thời có những đặc điểm riêng như sau: KCHTGT đường bộ mang tính thống nhất liên hoàn, các bộ phận bổ sung cho nhau. Do vậy, việc đầu tư và xây dựng hệ thống cầu, đường bộ phải tính đến nhân tố đầu tư toàn diện, đảm bảo hoàn thành đầy đủ toàn bộ các nhân tố thuộc KCHTGT đường bộ.
KCHTGT đường bộ chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, nên trong công tác phân bổ vốn đầu tư hàng nằm cần phải cân đối nguồn vốn thích hợp giữa dự án xây dựng mới với việc nâng cấp, mở rộng và phải dành một lượng vốn nhất định cho công tác bảo trì bảo dưỡng cầu, đường bộ. Vốn đầu tư xây dựng KCHTGT đường bộ thường rất lớn, thời gian thi công kéo dài nhiều năm. Vì vậy, phải huy động nguồn vốn đầu tư lớn cũng như phải có một quá trình theo dõi, quản lý vốn đầu tư và giám sát quá trình thi công chặt chẽ nhằm tránh tiêu cực thất thoát, tham nhũng. Do đặc điểm của các công trình giao thông mang tính cố định, đi qua nhiều địa bàn thuộc các địa phương khác nhau quản lý, cho nên khi chọn địa điểm xây dựng cần phải cân nhắc đầy đủ toàn diện để chọn phương án tuyến cho phù hợp, vừa đảm bảo yêu cầu phát triển KT – XH của một địa phương vừa đảm bảo yêu cầu phát triển KT – XH của một vùng và cả nước.
Mặt khác, trong quá trình tổ chức xây dựng, đòi hỏi các địa phương cần phối hợp với nhau từ khâu chuẩn bị đầu tư cho 11 đến khi xây dựng hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng. Hiệu quả đầu tư xây dựng vào các công trình giao thông đường bộ đối với nền kinh tế mang tính gián tiếp. Bên cạnh những công trình có thể thu hồi vốn bằng hình thức thu phí sử dụng đường bộ, còn có những công trình không thể thu hồi vốn bằng hình thức thu phí như các công trình cầu, đường bộ ở khu vực nông thôn, miền núi. Vì vậy, cần phân loại rõ thành các trường hợp để đầu tư bằng nguồn vốn NSNN hay huy đồng vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác.
Lợi ích mang lại của KCHTGT đường bộ thường phát huy trong một thời gian dài, không chỉ người dân đang sống hiện tại ở địa phương được hưởng lợi mà các thế hệ sau này cũng vẫn được hưởng những lợi ích đó. Điều này, cho phép Nhà nước và các địa phương có thể huy động nguồn lực tài chính dưới hình thức vay và trả nợ từ tổ chức, cá nhân bằng phát hành công trái quốc gia hoặc trái phiếu đầu tư địa phương.4 Đặc điểm phát triển hạ tầng giao thông đường bộ Theo Phạm Hoài Chung (2012): Đặc điểm của phát triển KCHTGTvận tải nói chung và KCHTGT đường bộ nói riêng là ngành sản xuất vật chất đặc biệt bởi nó có những đặc điểm như sau: Hoạt động đầu tư xây dựng KCHTGT đường bộ không chỉ mang lại lợi ích là lợi nhuận đơn thuần cho các tổ chức thực hiện mà quan trọng hơn, nó tạo điều kiện tiền đề cho các ngành sản xuất khác khai thác phát triển và khôi phục nhu cầu đi lại của nhân dân, là điều kiện để ổn định và phát triển kinh tế trong hiện tại cũng như trong tương lai. Chủ đầu tư hầu như không có lợi nhuận trực tiếp trong đầu tư xây dựng KCHTGT đường bộ mà lợi ích mong đợi là cho KT – XH của đất nước. Phát triển KCHTGT đường bộ với bản chất là loại hình đầu tư phát triển cần khối lượng vốn lớn, thời gian tiến hành thi công dài.
Sản phẩm đầu tư là những công trình giao thông đường bộ, là những hàng hóa công cộng, do nhiều thành phần tham gia khai thác, sử dụng.2 Vai trò của phát triển hạ tầng giao thông vận tải đường bộ 1.1 Vai trò của phát triển hạ tầng giao thông đường bộ đối với phát triển kinh tế Theo Cù Thanh Thủy (2018): Phát triển KCHTGT đường bộ là điều kiện tiền 12 đề thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì KCHTGT đường bộ là một trong những loại cơ sở vật chất – kỹ thuật nền tảng quan trọng nhất đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia hay vùng miền. Phát triển KCHTGT đường bộ sẽ mở ra cơ hội phát triển cho các vùng miền hay quốc gia, đặc biệt là những khu vực vùng sâu, vùng xa. Nếu như trước khi có đường giao thông, điều kiện đi lại khó khăn, nhiều khu vực vùng sâu, vùng xa ít được quan tâm đầu tư khai phá. Khi có đường giao thông, các luồng vốn đầu tư sẽ chảy về khu vực này, đánh thức tiềm năng kinh tế, hình thành nên những vùng sản xuất mới, làm ra thêm nhiều của cả cho xã hội qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.