lời mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu sơ đồ, luận văn đƣợc kết cầu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận vềphát triển hoạt động giao dịch ký quỹ chứng khoán của công ty chứng khoán. Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiế t kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hoạt độnggiao dịch ký quỹ chứng khoán tại Công ty Chứng khoán Sài Gòn. Chƣơng 4: Giải pháp phát triển hoạt động giao dịch ký quỹ chứng khoán tại Công ty Chứng khoán Sài Gòn. 2 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUVÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG GIAO DỊCH KÝ QUỸ CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển hoạt động giao dịch ký quỹ chứng khoán của công ty chứng khoán 1. Các công trình nghiên cứu Giao dịch ký quỹ mới đƣợc đƣợc cho phép thực hiện vào tháng 8/2011, vấn đề nghiên cứu xuất hiện chƣa lâu trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, nên từ trƣớc đến nay chƣa có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này. Một số các công trình nghiên cứu có liên quan đƣợc công bố nhƣ sau: - Đề tài “Phát triển giao dịch ký quỹ cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, luận văn thạc sỹ kinh tế,Đặng Thị Hoa, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2011. Trong luận văn, tác giả đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động giao dịch ký quỹ tại các công ty trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam: Khái niệm giao dịch ký quỹ, nêu lên đặc điểm của giao dịch ký quỹ, đồng thời phân tích vai trò và ảnh hƣởng của hoạt động giao dịch ký quỹ đối với thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích và làm rõ các nhân tố ảnh hƣởng tới hoạt động giao dịch ký quỹ trên thị trƣờng chứng khoán, trình bày thực trạng và nhu cầu phát triển sản phẩm tài chính giao dịch ký quỹ trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.Cuối cùng, luận văn cũng đƣa ra một số kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nƣớc, nhằm tạo điều kiện môi trƣờng pháp lý thuận lợi giúp kiểm soát cũng nhƣ hỗ hoạt động này. Do luận văn đƣợc thực hiện vào thời điểm mới bắt đầu triển khai giao dịch ký quỹ trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam nên tác giả chỉ mới đi sâu tập trung giải quyết, làm rõ những cơ sở lý luận về hoạt động giao dịch ký quỹ. Mà chƣa có cơ hội đi vào nghiên cứu thực tiễn hoạt động giao dịch ký quỹ trên thị trƣờng chứng 3 z khoán Việt Nam nói chung, thực trạng hoạt động này tại các công ty chứng khoán nói riêng.Trong khoảng thời gian từ năm 2011 tới nay thị trƣờng tài chính ngày càng phát triển, luật chứng khoán liên tục sửa đổi, đồng thời các công cụ, nghiệp vụ của các công ty chứng khoán cũng liên tục phát mở rộng, điều này làm cho cơ sở lý thuyết về hoạt động giao dịch ký quỹ cũng liên tục thay đổi. - Đề tài “Phát triển sản phẩm tài chính giao dịch ký quỹ chứng khoán trong hệ thống Ngân hàng Công thương Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ kinh tế,Nguyễn Hồng Linh, Đại học Kinh tế Tp.Hồ Chí Minh, 2008.
Luận văn là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên đi sâu vào nghiên cứu cơ sở lý luận, đƣa ra kiến nghị áp dụng và phát triển hoạt động giao dịch quý kỹ chứng khoán trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Cụ thể, tác giả đã đi sâu vào làm rõ cơ sở lý thuyết hoạt động giao dịch ký quỹ, đồng thời phân tích và đánh giá tính thực tiễn nếu cơ quan quản lý Nhà nƣớc cho phép hoạt động giao dịch ký quỹ trên thị trƣờng Việt Nam. Đặc biệt, luận văn đi sâu nghiên cứu về cách thức hoạt động của nghiệp vụ "Giao dịch ký quỹ chứng khoán", về tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thƣơng Việt Nam và về tình hình thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn (2005-2007). Từ đó, tác giả khuyến nghị đƣa nghiệp vụ "Giao dịch ký quỹ chứng khoán" vào hoạt động trong hệ thống Ngân hàng Công thƣơng Việt Nam.
Thời điểm nghiên cứu của đề tài là năm 2008, thời điểm giao dịch ký quỹ chứng khoán chƣa đƣợc cho phép áp dụng trên thị trƣờng, nên những tình uống thực tiễn chƣa nhiều. Đề tài tập trung nghiên cứu giao dịch ký quỹ tại Ngân hàng, chứ chƣa nghiên cứu hoạt động đối với một công ty chứng khoán, có nhiều sự khác biệt. - Đề tài “Đánh giá chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán tại công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt”, Đặng Quốc Tú, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Quốc Gia Tp. Tác giả đã trình bày những vấn đề cơ sở lý luận về hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán.
Đi sâu phân tích ảnh hƣởng, tác động của hoạt động môi giới đối với công ty chứng khoán nói chung và công ty chứng khoán Bảo Việt nói riêng. 4 z Đồng thời, tác giả cũng đƣa ra nhƣng biện pháp để phát triển cũng nhƣ quản lý đối với hoạt động này. Đánh giá chất lƣợng của dịch vụ môi giới tại công ty chứng khoán Bảo Việt dựa trên quan điểm khách hàng; Nhận ra những khâu nào trong dịch vụ là đạt hay chƣa đạt yêu cầu của khách hàng; Xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng dịch vụ môi giới chứng khoán; Đề xuất một số kiến nghị nhằm duy trì hoặc nâng cao chất lƣợng của dịch vụ môi giới. - Đề tài“Môi giới và Tư vấn Đầu tư Chứng khoán”,TS.
Bùi Thị Thanh Hƣơng, NXB Thống kê, Hà Nội, 2011. Tác giả đã đã đi sâu nghiên cứu, tổng hợp những vấn đề cơ bản về môi giới chứng khoán, khái niệm, nguyên tắc, kỹ năng cơ bản của ngƣời môi giới chứng khoán, các nghiệp vụ tác nghiệp cụ thể trong khi triển khai hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán.Đặc biệt, tác giả tập trung hệ thống hóa về mặt lý thuyết những vấn đề cơ bản về môi giới chứng khoán, tổ chức và hoạt động của công ty môi giới chứng khoán, tổng quan về nghiệp vụ giao dịch chứng khoán, tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán. Do đây là một công trình nghiên cứu về mặt lý thuyết, và mang tính chất hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổng quan hoạt động môi giới nên công trình chƣa đi vào một tình huống cụ thể với một công ty chứng khoán để nghiên cứu. - Đề tài “Cẩm nang ngân hàng đầu tư”, MBA.
Mạc Quang Huy, NXB Thống kê, Hà Nội, 2011. Công trình nghiên cứu tập trung bình bày bản chất của ngân hàng đầu tƣ, tức các công ty chứng khoán của Việt Nam. Cụ thể, tác giả đi sâu vào nghiên cứu cách thức tổ chức hoạt động, các nhóm sản phẩm và nghiệp vụ chính của ngân hàng đầu tƣ, cách thức quản lý hoạt động và rủi ro, đồng thời đề cập đến một số khía cạnh quan trọng của cuộc khủng hoảng tài chính đƣơng đại và ảnh hƣởng của nó tới hiện tại cũng nhƣ tƣơng lai phát triển của ngành ngân hàng đầu tƣ. Công trình cũng dành một chƣơng nghiên cứu về thực trạng thị trƣờng vốn và tiềm năng phát triển ngành ngân hàng đầu tƣ tại Việt Nam.
Khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu Cho đến nay, do thời gian xuất hiện của vấn đề nghiên cứu là chƣa lâu nên các công trình nghiên cứu về Phát triển hoạt động giao dịch ký quỹ là khá ít. Bên cạnh đó các khung pháp lý liên tục thay đổi điều này yêu cầu có các công trình nghiên cứu tiếp nối, liên tục bổ xung hoàn thiện cơ sở lý luận về hoạt động môi giới nói chung cũng nhƣng hoạt động giao dịch ký quỹ nói riêng. Với một đối tƣợng nghiên cứu cụ thể, để áp dụng cho một công ty chứng khoán, là một yêu cầu thực tế cấp thiết cần đƣợc nghiên cứu. Đặc biệt đề tài lựa chọn Công ty Chứng khoán Sài Gòn làm địa điểm nghiên cứu với những đặc thù và điều kiện riêng thì chƣa có công trình nào đề cập tới.
Cở sở lý luận về phát triển hoạt động giao dịch ký quỹ chứng khoán của công ty chứng khoán 1. Khái quát về công ty chứng khoán 1. Khái niệm công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trƣờng chứng khoán. Theo Luật Chứng khoán số 70/2006/QH thông qua ngày 29/06/2006 và luật số 62/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán, có hiệu lực kể từngày 01 tháng 7 năm 2011 và luật Chứng khoán số 27/2013/VBHN-VPQH đƣợc Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 12 năm 2013, công ty chứng khoán đƣợc tổ chức dƣới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Ủy ban Chứng khoán Nhà nƣớc cấp Giấy phép thành lập và hoạt động cho công ty chứng khoán. Giấy phép này đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty chứng khoán đƣợc thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh sau đây: Môi giới chứng khoán, Tự doanh chứng khoán, Bảo lãnh phát hành chứng khoán, Tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán. Công ty chứng khoán chỉ đƣợc phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán.
6 z Ngoài các nghiệp vụ kinh doanh trên, công ty chứng khoán đƣợc nhận ủy thác quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tƣ cá nhân, cung cấp dịch vụ tƣ vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác theo quy định của BộTài chính. Đặc điểm của công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là trung gian tài chính Nguyên tắc trung gian là một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trƣờng tài chính nói chung và thị trƣờng chứng khoán nói riêng. Với tƣ cách là một thành viên tham gia thị trƣờng, công ty chứng khoán là trung gian tài chính với các vai trò nhƣ trung gian giao dịch, trung gian thanh toán, trung gian rủi ro, trung gian thông tin… Công ty chứng khoán là một trung gian giao dịch. Đặc điểm này đƣợc thể hiện rõ nét nhất qua hoạt động môi giới của công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán đại diện cho nhà đầu tƣ tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở Giao dịch chứng khoán hoặc thị trƣờng phi tập trung, qua đó giúp ngƣời mua và ngƣời bán chứng khoán tìm đến nhau dễ dàng hơn với những thông tin đáng tin cậy, rút ngắn thời gian cũng nhƣ chi phí giao dịch và làm tăng tính thanh khoản của thị trƣờng.