CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Đã có khá nhiều tài liệu nghiên cứu về du lịch văn hoá như: − Tổng Quan Du Lịch – Võ Văn Thành: Cuốn sách “Tổng quan du lịch” được biên soạn nhằm cung cấp cho sinh viên chuyên ngành du lịch nói riêng và độc giả nói chung những vấn đề cơ bản về du lịch một cách có hệ thống: Thế nào là du lịch, tài nguyên du lịch? Các vùng du lịch ở Việt Nam? Tác động của du lịch đối với kinh tế - văn hóa – xã hội và môi trường nước sở tại? Vài nét về nguồn nhân lực du lịch… − Một Số Vấn Đề Văn Hóa Du Lịch Việt Nam – Võ Văn Thành: Có thể khẳng định phần lớn tài nguyên du lịch là các giá trị, thành tựu, công trình văn hóa của dân tộc trong sự gắn bó với môi trường tự nhiên và xã hội. Bên cạnh đó, tài nguyên du lịch còn gắn trực tiếp với tiến trình lịch sử, truyền thống văn hóa của dân tộc qua các thời kỳ khác nhau.
Như vậy, đối với du lịch bền vững, văn hóa trở thành tài nguyên tạo nên sự hấp dẫn có chiều sâu nhất để khai thác. Cuốn sách hay về ngành du lịch “Một số vấn đề văn hóa du lịch Việt Nam” giúp chúng ta hiểu hơn về mối quan hệ này. − Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch – Trần Mạnh Thường: Việt Nam, đất nước giầu tiềm năng du lịch. Ngày nay trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá kinh tế, chúng ta đang từng bước hội nhập với khu vực và thế giới trên nhiều lĩnh vực, trong đó du lịch với tư cách là một ngành công nghiệp xanh đóng vai trò hết sức quan trọng.
Nó vừa là một ngành kinh tế mũi nhọn, vừa đảm đương chức nang thông tin, tuyên truyền, trong mối quan hệ giao lưu văn hoá. − Cuốn sách Các nhà khoa bảng, tri thức và nghệ nhân tiêu biểu huyện Thường Tín (1075 – 2015): Cuốn sách khái quát về quá trình phát triển của sự nghiệp giáo dục - đào tạo; “đất trăm nghề” Thường Tín và những đóng góp quan trọng của các nhà khoa bảng, trí thức và nghệ nhân tiêu biểu huyện Thường Tín trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước; đồng thời gợi mở định hướng phát triển nguồn nhân lực, chất lượng cao cho quê hương Thường Tín trong thời kỳ đổi mới. Cơ sở lý luận Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch khám chữa bệnh, du lịch giáo dục,. du lịch văn hóa hiện nay đang là xu hướng phát triển 4 của nhiều quốc gia trên thế giới, bởi nó không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn mang lại giá trị cho cộng đồng.
Hiện nay, có khá nhiều khái niệm du lịch văn hóa được đưa ra. Mỗi khái niệm là một cách tiếp cận của người nghiên cứu. Trong công ước quốc tế về du lịch văn hóa của Hội đồng quốc tế các di tích và di chỉ (ICOMOS) năm 1999 đã đưa ra định nghĩa theo cách tiếp cận là nghiên cứu về di chỉ và di tích: “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di tích và di chỉ. Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp nỗ lực vào việc duy trì, bảo tồn.
Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì lợi ích văn hóa – kinh tế – xã hội.” [4] Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) đã đưa ra một khái niệm khá chi tiết nhưng lại bị giới hạn về đối tượng khách du lịch: “Du lịch văn hóa bao gồm các hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như: chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích về đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương.”[11] Trong Luật du lịch Việt Nam (2017) đưa ra một định nghĩa khác mà không bị giới hạn về đối tượng khách và các yếu tố của du lịch văn hóa: “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại.” [7] “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch chủ yếu hướng vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim.22] “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa trên cơ sở khai thác các giá trị văn hóa dân tộc và được tổ chức một cách có văn hóa.98] Ở nhiều nước, nhất là Đông Nam Á, về mặt lý thuyết người ta xếp loại hình du lịch văn hóa (Cultural Tourism) vào loại hình du lịch sinh thái (Eco Tourism) bởi cho rằng sinh thái học (Escology) bao gồm cả sinh thái học và nhân văn học (Human Ecology). Du lịch văn hóa mang tính giáo dục nhận thức: Sản phẩm du lịch văn hóa ngoài phần dịch vụ còn một phần là những di sản vật thể cũng như phi vật thể. Những di sản này hàm chứa nhiều thông tin về văn hóa, lịch sử của dân tộc cũng như kiến thức thẩm mỹ, nghệ thuật. Rõ ràng, du lịch văn hóa giúp du khách hiểu biết hơn về lịch sử văn hóa của quốc gia điểm đến.
5 Thang Long University Library Du lịch văn hóa có thị trường khách lựa chọn: Khách lựa chọn du lịch văn hóa thường đã xác định mục đích chuyến đi của mình là nhằm tìm hiểu về văn hóa nơi mình đến. Thông thường đối tượng khách này cũng có những kiến thức xã hội nhất định. Du lịch văn hóa giúp bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống. Để phát triển được du lịch văn hóa, điều quan trọng là phải bảo tồn được những giá trị văn hóa mang đậm bản sắc riêng của dân tộc.
Chỉ có như thế mới thu hút được khách. Du lịch văn hóa là nhịp cầu trao đổi văn hóa giữa các dân tộc: Những tri thức văn hóa thu nhập được từ các sản phẩm du lịch văn hóa sẽ góp phần làm lan tỏa những giá trị của quốc gia, thẩm thấu vào nền văn hóa khác. Trên thế giới ngày nay đang phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch hoài cổ, du lịch khám phá, du lịch sinh thái,. Nhưng du lịch theo kiểu nào, nước nghèo hay nước công nghiệp phát triển, du lịch bao giờ cũng gắn liền với văn hóa, với bản sắc của mỗi quốc gia.
Văn hóa luôn tiềm ẩn, hóa thân trong hoạt động du lịch và hoạt động du lịch trước tiên là hoạt động nhằm tìm ra các giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại nhằm thưởng thức, khám phá và sáng tạo. Như vậy du lịch văn hóa là một loại hình du lịch lấy việc khai thác tài nguyên làm mục đích, khai thác các giá trị văn hóa vào phát triển và bảo tồn một nguồn tài nguyên du lịch. Du lịch văn hóa là một phương tiện truyền tải giá trị văn hóa của một địa phương, một dân tộc, một quốc gia cho du lịch khám phá, thưởng ngoạn, giao lưu và học tập. Nó góp phần đánh thức, làm dậy lên những giá trị văn hóa.
Thông qua du lịch, các tài sản văn hóa được bảo vệ, tôn tạo và phục hồi những giá trị. Tài nguyên du lịch văn hóa Tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử bởi vì những thay đổi về cơ cấu và lượng nhu cầu đã lôi cuốn vào hoạt động du lịch những thành phần mới mang tính chất tự nhiên cũng như mang tính chất văn hóa, lịch sử. Theo Luật du lịch Việt Nam (2017): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa.
Chính sự phong phú, đa dạng, đặc 6 sắc, mới mẻ của tài nguyên du lịch tạo nên sự hấp dẫn của sản phẩm du lịch. Tài nguyên du lịch cũng đồng thời là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch. Tài nguyên du lịch có ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ du lịch. Tài nguyên du lịch ảnh hưởng đến việc hình thành và chuyên môn hóa của vùng du lịch và ảnh hưởng hiệu quả kinh tế của hoạt động dịch vụ.
Quy mô hoạt động du lịch của một lãnh thổ được xác định trên cơ sở khối lượng tài nguyên và nó quyết định tính mùa, tính nhịp điệu của dòng du khách. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa. Tài nguyên du lịch thường có các đặc điểm sau: − Tài nguyên du lịch rất đa dạng, bao gồm tài nguyên vật thể và tài nguyên phi vật thể. − Tài nguyên du lịch không bị suy giảm trong quá trình khai thác và nguồn này có thể được sử dụng với số lần không hạn chế nếu như chúng được bảo vệ, tôn tạo và khai thác đúng cách.
− Tài nguyên du lịch không phải là bất biến. − Tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau, tạo nên tính mùa trong du lịch. − Tài nguyên du lịch được khai thác tại chỗ, nên có sức hút cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng và khách du lịch tới nơi tập trung các tài nguyên đó. − Tài nguyên du lịch là dạng đặc biệt, rất nhạy cảm với những tác động bên ngoài, cho nên đòi hỏi được bảo vệ ở mức cao nhất.
Luật du lịch Việt Nam năm 2017 định nghĩa: “Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên kháccó thểđượcsử dụng cho mục đích du lịch.” [7] Giá trị cao nhất của tài nguyên du lịch tự nhiên là các di sản thiên nhiên thế giới. Các loại tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: địa chất, địa hình, địa mạo; tài nguyên nước; tài nguyên sinh vật. Tài nguyên du lịch văn hóa Khi nhắc đến tài nguyên du lịch nói chung, hầu hết các tài liệu đều chia tài nguyên du lịch thành hai loại chính là “tài nguyên du lịch tự nhiên” và “tài nguyên du lịch nhân văn”.