Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch Việt Nam trong những năm qua đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, từng bước khẳng định vị thế là ngành kinh tế mũi nhọn theo định hướng tại Quyết định số 2473/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Tại tỉnh Bến Tre, vùng đất với diện tích tự nhiên 2.315,01 km2 và dân số đạt hơn 1,58 triệu người vào năm 2012, hoạt động du lịch đã ghi nhận sự tăng trưởng rõ rệt. Doanh thu du lịch toàn tỉnh năm 2011 đạt khoảng 300 tỷ đồng, tăng 22,5% so với năm 2010; đến năm 2012 con số này tiếp tục chạm mốc 368 tỷ đồng với mức tăng trưởng 22,6%, đón tiếp 693.000 lượt khách, trong đó khách quốc tế chiếm 300.500 lượt.

Tuy nhiên, thực tiễn phát triển du lịch tại địa phương vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn lớn khi các sản phẩm thương mại trong suốt hơn một thập kỷ chủ yếu tập trung vào loại hình du lịch sinh thái miệt vườn đơn thuần, thiếu tính đột phá và chưa khai thác tương xứng với kho tàng tài nguyên nhân văn phong phú. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa tiềm năng di sản văn hóa dồi dào và hiệu quả kinh doanh du lịch còn ở mức khiêm tốn. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch văn hóa, đánh giá toàn diện hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong giai đoạn 2009-2013, và hoạch định hệ thống giải pháp phát triển bền vững đến năm 2020. Đề tài mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu tin cậy giúp các nhà quản lý nâng cao tỷ trọng đóng góp của du lịch văn hóa vào cơ cấu kinh tế địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển du lịch và lý thuyết tài nguyên du lịch theo quan điểm của Pirojnik và các nhà khoa học Việt Nam, khẳng định tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử có khả năng đáp ứng nhu cầu phục hồi, phát triển thể lực, trí lực của con người. Bên cạnh đó, nghiên cứu áp dụng khung lý thuyết cung - cầu du lịch của Hunziker và Krapf kết hợp với mô hình tương quan giữa trình độ học vấn và hành vi tiêu dùng du lịch của McIntosh, chỉ ra rằng tỷ lệ tham gia du lịch tăng từ 50% ở nhóm chưa tốt nghiệp trung học lên đến 85% ở nhóm có trình độ đại học. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong công trình gồm:

  • Du lịch văn hóa (Cultural Tourism): Hoạt động du lịch khai thác các giá trị tài nguyên nhân văn vật thể và phi vật thể nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, nhận thức, trải nghiệm và nâng cao vốn văn hóa của du khách.
  • Văn hóa du lịch (Tourism Culture): Khoa học nghiên cứu và phương cách ứng xử, chế tác, chuyển hóa các giá trị văn hóa bản địa thành sản phẩm dịch vụ hoàn chỉnh chứa đựng hàm lượng trí tuệ cao.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn: Tập hợp các di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, lễ hội truyền thống, làng nghề và các hình thức diễn xướng dân gian có sức hấp dẫn du khách.
  • Sản phẩm du lịch đặc thù: Chuỗi trải nghiệm độc bản gắn liền với địa danh, tạo nên thương hiệu riêng biệt cho điểm đến.

Theo ước tính của Hội đồng Lữ hành và Du lịch Thế giới, ngành du lịch đóng góp tới 10,7% tổng số lao động toàn cầu, khẳng định vai trò đòn bẩy kinh tế - xã hội to lớn của du lịch văn hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2009-2013 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bến Tre, kết hợp dữ liệu sơ cấp thu thập qua đợt khảo sát thực địa kéo dài 5 tháng liên tục, từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2013. Cỡ mẫu điều tra thực nghiệm gồm N = 250 du khách, phân bổ theo cấu trúc 150 khách quốc tế và 100 khách nội địa.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện có phân tầng được áp dụng tại các cù lao trọng điểm ven sông Tiền thuộc huyện Châu Thành. Lý do lựa chọn khu vực này vì đây là cửa ngõ tiếp nhận dòng khách lớn nhất tỉnh, nơi tập trung mật độ cao các hoạt động lữ hành và lưu trú, đảm bảo tính đại diện cho hành vi tiêu dùng của du khách. Tác giả kết hợp phương pháp điều tra bảng hỏi xã hội học, thống kê mô tả, phân tích tổng hợp tài liệu lịch sử và phương pháp bản đồ không gian để xử lý số liệu, phân loại tuyến điểm và đánh giá chính xác sức chứa du lịch tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa và phân tích định lượng đã làm nổi bật 4 phát hiện quan trọng về bức tranh du lịch Bến Tre:

  • Thị hiếu tập trung vào sinh thái nhưng thiếu chiều sâu văn hóa: Kết quả khảo sát 250 khách cho thấy có 81 du khách (chiếm 32,4%) lựa chọn hoạt động tham quan vườn trái cây miệt vườn. Tuy nhiên, hoạt động văn hóa duy nhất được lồng ghép tại các điểm vườn chỉ dừng lại ở đờn ca tài tử tài tử mang tính biểu diễn đơn thuần.
  • Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa bị bỏ ngỏ: Có 66 du khách (chiếm 26,4%) bày tỏ nhu cầu tham quan các di tích và đền chùa. Dẫu vậy, trong tổng số 31 di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia và cấp tỉnh của Bến Tre, mới chỉ có khoảng 5 điểm được khai thác thường xuyên như Khu di tích Nguyễn Đình Chiểu, Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định, Di tích Đồng Khởi, Đình Tân Thạch và Chùa Hội Tôn.
  • Tiềm năng làng nghề và lễ hội chưa được chuyển hóa thành sản phẩm: Bến Tre có 55 làng nghề (26 làng nghề nông nghiệp và 29 làng nghề tiểu thủ công nghiệp), song chỉ có 29 du khách (chiếm 11,6%) thực sự tham gia tour làng nghề truyền thống. Tỷ lệ khách quan tâm đến lễ hội địa phương chỉ đạt 27/250 người (tương đương 10,8%) do tính thời vụ và thiếu khâu liên kết quảng bá.
  • Bất cập về hạ tầng và chất lượng nhân lực: Toàn tỉnh có 49 cơ sở lưu trú với khoảng hơn 1.000 phòng nhưng chỉ có 2 khách sạn 3 sao; đội ngũ lao động du lịch đạt 4.141 người nhưng có tới 2.485 lao động phổ thông chưa qua đào tạo chuẩn mực (chiếm 60,0%), lao động có trình độ cao đẳng, đại học chỉ đạt 414 người (chiếm 10,0%) và trung cấp là 1.242 người (chiếm 30,0%).

Thảo luận kết quả

Khi mô tả cơ cấu thị hiếu của du khách qua biểu đồ phân bổ phần trăm nhu cầu (với 32,4% sinh thái miệt vườn, 26,4% di tích lịch sử, 11,6% làng nghề và 10,8% lễ hội), ta thấy rõ sự phân hóa sâu sắc trong việc tiếp nhận sản phẩm. Nguyên nhân cốt lõi khiến tỷ lệ khách đến với các di tích và làng nghề còn thấp là do sản phẩm du lịch đơn điệu, có sự trùng lặp lớn với các tỉnh lân cận như Tiền Giang hay Vĩnh Long. Cơ sở hạ tầng kết nối các điểm di tích ở xa trung tâm thành phố như Ba Tri (cách 40 km) hay Thạnh Phú (cách 70 km) chưa đồng bộ, các tuyến đường nhánh chưa đủ tiêu chuẩn kỹ thuật cho xe du lịch 45 chỗ tiếp cận.

So sánh với các nghiên cứu kinh tế du lịch cùng thời kỳ, dù doanh thu năm 2012 tăng 22,6% đạt 368 tỷ đồng, mức chi tiêu bình quân của khách tại Bến Tre vẫn ở ngưỡng thấp do thời gian lưu trú ngắn, phần lớn là khách đi tour trong ngày từ Thành phố Hồ Chí Minh. Các giá trị văn hóa phi vật thể vô cùng đặc sắc như Hát sắc bùa Phú Lễ, Nói thơ Lục Vân Tiên, hay nghệ thuật ẩm thực dừa chưa được tổ chức thành các không gian trải nghiệm tương tác có thu phí.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm phát triển bền vững du lịch văn hóa Bến Tre:

  • Đổi mới và nâng cấp sản phẩm du lịch di sản gắn với nghệ thuật diễn xướng dân gian: Phục dựng và đưa nghệ thuật Hát sắc bùa Phú Lễ, Nói thơ Vân Tiên vào các tour chuyên đề định kỳ tại Khu di tích Nguyễn Đình Chiểu và Đình Phú Lễ; đặt mục tiêu nâng tỷ lệ du khách trải nghiệm văn hóa từ 26,4% lên 40% trong giai đoạn 2014-2020. Chủ thể thực hiện: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bến Tre chủ trì, phối hợp cùng các công ty lữ hành.
  • Quy hoạch không gian du lịch theo 3 cụm liên kết và hoàn thiện hạ tầng giao thông: Tập trung đầu tư nâng cấp Tỉnh lộ 885, Tỉnh lộ 883 và Quốc lộ 57 kết nối hoàn chỉnh với cầu Hàm Luông và cầu Cổ Chiên; đặt mục tiêu giảm 25% thời gian di chuyển liên cụm trước năm 2018 nhằm tạo điều kiện cho các đoàn xe du lịch cỡ lớn. Chủ thể thực hiện: Sở Giao thông Vận tải phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre.
  • Chuẩn hóa và đào tạo nguồn nhân lực du lịch bản địa: Tổ chức các khóa đào tạo nghiệp vụ thuyết minh viên di tích, bồi dưỡng kỹ năng ngoại ngữ và văn hóa ứng xử du lịch; đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 40% lên 65% trên tổng số 4.141 nhân sự ngành du lịch trước năm 2020. Chủ thể thực hiện: Hiệp hội Du lịch Bến Tre liên kết với các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp.
  • Phát triển chuỗi giá trị du lịch làng nghề và nâng tầm thương hiệu Festival Dừa: Xây dựng 5 điểm dừng chân trải nghiệm kiểu mẫu tại làng nghề kẹo dừa Mỏ Cày, làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng và hoa kiểng Cái Mơn; đặt mục tiêu tăng mức chi tiêu mua sắm quà lưu niệm của du khách tối thiểu 20% mỗi năm. Chủ thể thực hiện: Sở Công Thương phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện Châu Thành, Giồng Trôm và Mỏ Cày Nam.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách du lịch: Khai thác hệ thống số liệu về 31 di tích và 55 làng nghề để xây dựng các đề án quy hoạch không gian du lịch, ban hành cơ chế thu hút đầu tư hạ tầng đồng bộ đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.
  • Doanh nghiệp lữ hành và các nhà đầu tư dịch vụ du lịch: Tham khảo các mẫu thiết kế tour văn hóa - sinh thái kết hợp để đa dạng hóa chương trình tour, gia tăng thời gian lưu trú và mức chi tiêu của nhóm khách quốc tế (vốn chiếm trên 43% tổng lượng khách).
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Du lịch, Văn hóa học: Ứng dụng khung lý thuyết của Pirojnik, McIntosh và bộ dữ liệu khảo sát thực nghiệm N = 250 làm tài liệu giảng dạy, học tập và phát triển các công trình nghiên cứu mở rộng về kinh tế di sản.
  • Ban quản lý di tích và các cơ sở làng nghề truyền thống: Vận dụng các khuyến nghị về bảo tồn văn hóa phi vật thể (như Hát sắc bùa, Nói thơ Vân Tiên) để xây dựng mô hình du lịch cộng đồng, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho cư dân địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Điểm đặc sắc nhất của tài nguyên du lịch nhân văn Bến Tre so với các tỉnh Tây Nam Bộ là gì?

Bến Tre sở hữu loại hình nghệ thuật dân gian độc nhất vô nhị tại Đồng bằng sông Cửu Long là Hát sắc bùa Phú Lễ tại huyện Ba Tri, kết hợp với nghệ thuật Nói thơ Lục Vân Tiên gắn liền với danh nhân văn hóa Nguyễn Đình Chiểu. Cùng với 55 làng nghề truyền thống và 31 di tích lịch sử được xếp hạng, địa phương có chiều sâu văn hóa bản địa vô cùng khác biệt.

Nguyên nhân chính khiến du lịch văn hóa Bến Tre chưa phát triển tương xứng với tiềm năng là gì?

Theo số liệu khảo sát, có tới 32,4% khách chỉ tham gia du lịch sinh thái miệt vườn thuần túy. Sản phẩm du lịch văn hóa chưa được gia công chế biến thành chuỗi dịch vụ hấp dẫn, các di tích lịch sử cách xa trung tâm (từ 40 km đến 70 km) và thiếu sự liên kết đồng bộ giữa doanh nghiệp lữ hành với các nghệ nhân bản địa.

Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ du lịch tại Bến Tre có những bất cập nào?

Đến năm 2013, trong tổng số 4.141 lao động toàn ngành, có tới 2.485 người (chiếm 60%) là lao động phổ thông chưa qua đào tạo bài bản. Lực lượng có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chỉ đạt 414 người (chiếm 10%), gây cản trở lớn đến việc xây dựng phong cách phục vụ chuyên nghiệp và khả năng thuyết minh di sản chuyên sâu.

Phương pháp chọn mẫu và quy mô khảo sát trong luận văn được thực hiện ra sao?

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra xã hội học với bảng hỏi cấu trúc trên cỡ mẫu N = 250 du khách (gồm 150 khách quốc tế và 100 khách nội địa) trong thời gian 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2013). Địa bàn khảo sát tập trung tại các cù lao du lịch trọng điểm ven sông Tiền thuộc huyện Châu Thành nhằm đảm bảo tính đại diện cao.

Định hướng phân bố không gian du lịch văn hóa Bến Tre gồm những khu vực trọng tâm nào?

Luận văn định hướng phát triển 3 cụm không gian chính: Cụm trung tâm Thành phố Bến Tre - Châu Thành (văn hóa sông nước, làng nghề thủ công); Cụm Giồng Trôm - Ba Tri (di tích danh nhân Nguyễn Đình Chiểu, Võ Trường Toản, văn hóa biển); Cụm Mỏ Cày - Chợ Lách (di tích Đồng Khởi, văn hóa miệt vườn Cái Mơn), kết nối thông suốt qua mạng lưới Quốc lộ 57 và Tỉnh lộ 885.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú của Bến Tre với 31 di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia và cấp tỉnh cùng 55 làng nghề truyền thống.
  • Thiết lập bộ dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác từ khảo sát 250 du khách, chỉ rõ thực trạng mất cân đối khi du lịch sinh thái chiếm 32,4% trong khi du lịch di tích chỉ đạt 26,4% và làng nghề đạt 11,6%.
  • Đánh giá sâu sắc các điểm nghẽn hạ tầng lưu trú với 49 cơ sở và cơ cấu 4.141 lao động ngành du lịch còn thiếu hụt trình độ chuyên môn cao.
  • Hoạch định không gian phát triển liên hoàn kết nối 3 cụm du lịch văn hóa - sinh thái trọng điểm gắn với hệ thống giao thông huyết mạch.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp thực tiễn có lộ trình thực hiện đến năm 2020, tạo đòn bẩy phát triển kinh tế du lịch bền vững.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Quốc Thái là công trình nghiên cứu công phu, đặt nền móng lý luận và thực tiễn vững chắc cho sự chuyển dịch từ du lịch sinh thái đơn thuần sang du lịch văn hóa bền vững tại Bến Tre. Để hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn với tốc độ tăng trưởng doanh thu trên 20%/năm, các nhà quản lý, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng địa phương cần nhanh chóng phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp liên kết chuỗi giá trị điểm đến ngay từ hôm nay!