Tổng quan nghiên cứu

Huyện A Lưới, vùng đất miền núi phía Tây thành phố Huế (tỉnh Thừa Thiên Huế), sở hữu hệ sinh thái rừng tự nhiên phong phú cùng kho tàng văn hóa đặc sắc của các dân tộc Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu. Hoạt động du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng (CBET) tại đây đã ghi nhận những bước chuyển mình ấn tượng. Cụ thể, theo báo cáo năm 2024 của Ủy ban nhân dân huyện A Lưới, tổng lượt khách du lịch đến địa bàn đạt 212.945 lượt, bao gồm 158.945 lượt khách nội địa và 54.000 lượt khách quốc tế. Tổng doanh thu từ hoạt động du lịch năm 2024 ước tính đạt gần 40 tỷ đồng, tăng gấp 10 lần so với thời điểm năm 2020. Du lịch sinh thái cộng đồng cũng đã tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 500 lao động địa phương, đem lại mức thu nhập bình quân từ 2,5 đến 3,5 triệu đồng mỗi người một tháng.

Tuy nhiên, thực tế phát triển du lịch tại địa phương vẫn đối diện nhiều rào cản nội tại. Nguồn nhân lực cộng đồng còn thiếu kỹ năng chuyên môn và ngoại ngữ; cơ sở hạ tầng giao thông và dịch vụ lưu trú tại các điểm du lịch như thác A Lin, suối Parle, thác A Nôr hay suối khoáng nóng A Roàng còn thiếu tính đồng bộ; cơ chế phối hợp chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan chưa thực sự hoàn thiện. Tình trạng khai thác tài nguyên tự phát đang tạo ra những nguy cơ xâm hại môi trường và làm mai một bản sắc văn hóa truyền thống.

Trước yêu cầu cấp thiết đó, đề án thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Hồ Thanh Phương, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Hồ Thị Hương Lan tại Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế, tập trung nghiên cứu đề tài phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại huyện A Lưới. Đề tài hướng tới ba mục tiêu cụ thể: hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng; đánh giá thực trạng phát triển trên địa bàn huyện giai đoạn 2022 - 2024; từ đó đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ giai đoạn 2025 - 2030 nhằm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng gắn với sinh kế bền vững của đồng bào dân tộc thiểu số theo đúng tinh thần Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ huyện A Lưới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng (Community-Based Ecotourism - CBET) của Sproule (1998) và các nguyên lý của tổ chức Du lịch Xã hội và Sinh thái có Trách nhiệm (REST). Theo khung lý thuyết này, du lịch sinh thái cộng đồng lấy cư dân bản địa làm trung tâm, trao quyền cho người dân trực tiếp tham gia chuỗi cung ứng dịch vụ, quản lý tài nguyên và thụ hưởng thành quả kinh tế một cách bình đẳng. Nghiên cứu cũng kết hợp quan điểm phát triển con người bền vững của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP, 1990), khẳng định mục tiêu phát triển du lịch không chỉ giới hạn ở mức tăng trưởng doanh thu mà phải mở rộng cơ hội sinh kế, cải thiện chất lượng sống và nâng cao nhận thức bảo vệ sinh thái.

Kế thừa các nghiên cứu thực nghiệm của Nguyễn Bùi Anh Thư và cộng sự (2019) về sự tham gia của hộ gia đình vào hoạt động du lịch sinh thái và nghiên cứu đánh giá tiềm năng của Tôn Thất Hữu Đạt (2014), tác giả đã xác lập hệ thống thang đo đánh giá gồm 18 thuộc tính phân bổ vào 5 nhóm yếu tố cốt lõi:

  1. Nhóm tài nguyên tự nhiên (3 thuộc tính đánh giá độ phong phú, tính độc đáo và tính bền vững khi khai thác).
  2. Nhóm thể chế và chính sách (6 thuộc tính đo lường tính phù hợp của chính sách địa phương, cơ sở hạ tầng, thủ tục quản lý, tính công bằng trong chia sẻ lợi ích, cơ chế đối thoại và giải quyết xung đột).
  3. Nhóm tài sản sinh kế (5 thuộc tính bao gồm vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn tài chính, nguồn nhân lực và trang thiết bị vật chất của hộ gia đình).
  4. Nhóm lợi ích kinh tế (4 thuộc tính phản ánh tính bền vững sinh kế, cơ hội việc làm, thu nhập và sự thúc đẩy kinh tế địa phương).
  5. Nhóm năng lực tự quản và nhận thức của cộng đồng địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong khung thời gian 3 năm từ 2022 đến 2024. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê thành phố Huế, các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân huyện A Lưới, Quyết định số 509/QĐ-TTg ngày 13/6/2024 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021 - 2030, và Quyết định số 1691/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa với quy mô mẫu 61 đại diện hộ gia đình trực tiếp tham gia chuỗi dịch vụ du lịch tại 5 điểm đến tiêu biểu gồm: Thác A Lin (xã Hồng Vân), Thác A Nôr và Homestay Việt Tiến (xã Hồng Kim), Suối Parle và Homestay Hồng Hạ (xã Hồng Hạ). Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích kết hợp thuận tiện được áp dụng để đảm bảo mẫu bao quát đủ các nhóm dịch vụ từ homestay, ăn uống bản địa đến hướng dẫn viên cộng đồng. Song song đó, tác giả thực hiện 5 cuộc phỏng vấn chuyên sâu định tính với 2 cán bộ chuyên trách thuộc cơ quan quản lý huyện A Lưới, 1 đại diện doanh nghiệp lữ hành đang vận hành tour liên kết, và 2 chủ hộ làm du lịch tiêu biểu.

Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý thông qua phần mềm SPSS với kỹ thuật thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình) và phương pháp phân tích tầm quan trọng - mức độ đáp ứng (IPMA) do Martilla và James khởi xướng năm 1977. Phương pháp IPMA được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc ánh xạ trực quan 18 thuộc tính lên không gian tọa độ 2 chiều với thang đo Likert 5 điểm. Mô hình này giúp nhận diện chính xác độ lệch giữa kỳ vọng của cộng đồng về mức độ quan trọng so với hiệu quả đáp ứng thực tế trên 4 góc phần tư: C (Tập trung phát triển), K (Tiếp tục duy trì), L (Hạn chế phát triển), và O (Giảm đầu tư), tạo căn cứ thực chứng vững chắc cho việc phân bổ nguồn lực công.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2022 - 2024 tại huyện A Lưới cho thấy bức tranh phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng với nhiều phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tăng trưởng thị trường du lịch diễn ra mạnh mẽ nhưng cơ cấu khách còn mất cân đối. Tổng lượng khách năm 2024 chạm mốc 212.945 lượt, trong đó dòng khách nội địa chiếm tỷ trọng áp đảo 74,64% (tương đương 158.945 lượt), còn khách quốc tế chỉ chiếm 25,36% (khoảng 54.000 lượt). Mặc dù tổng doanh thu năm 2024 đạt gần 40 tỷ đồng, cho thấy mức tăng trưởng ấn tượng gấp 10 lần so với giai đoạn năm 2020, phần lớn chi tiêu của khách vẫn tập trung vào các dịch vụ vé vào cổng và ẩm thực ngắn ngày mà chưa phát sinh nhiều từ dịch vụ lưu trú dài ngày hay trải nghiệm chuyên sâu.

Thứ hai, giá trị sinh kế cộng đồng được cải thiện nhưng mức độ tích lũy chưa cao. Hoạt động du lịch đã giải quyết việc làm cho 500 lao động tại chỗ, mang lại mức thu nhập bình quân từ 2,5 đến 3,5 triệu đồng/người/tháng. Đáng chú ý, kết quả khảo sát 61 hộ gia đình chỉ ra rằng chỉ có khoảng 32,8% hộ dân coi du lịch là nguồn thu nhập chính và mang tính ổn định quanh năm; khoảng 67,2% số hộ còn lại vẫn xem đây là công việc thời vụ bổ trợ bên cạnh canh tác nương rẫy, trồng trọt và chăn nuôi.

Thứ ba, sự mất cân đối giữa tầm quan trọng và mức độ đáp ứng thể hiện rõ nét qua mô hình IPMA. Trong số 18 thuộc tính phân tích, các yếu tố về tài nguyên thiên nhiên nguyên sơ và giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Pa Cô, Tà Ôi đều đạt điểm đánh giá mức độ quan trọng cao (trung bình trên 4,2 điểm) và mức đáp ứng tốt (trên 4,0 điểm), nằm chắc chắn trong góc phần tư K (Tiếp tục duy trì). Ngược lại, các thuộc tính then chốt như hạ tầng giao thông kết nối, năng lực giao tiếp ngoại ngữ của cư dân, cơ chế tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, và tính minh bạch trong phân chia lợi nhuận cộng đồng đều rơi vào góc phần tư C (Tập trung phát triển), với điểm số đáp ứng thực tế chỉ dao động từ 2,4 đến 2,9 điểm, phản ánh sự thiếu hụt nghiêm trọng so với kỳ vọng của người dân.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu qua biểu đồ tọa độ phân tán Scatter IPMA và các bảng thống kê mô tả tần suất, sự tách biệt giữa hai trục Tầm quan trọng và Mức độ đáp ứng phản ánh rõ nét những nút thắt căn bản trong chuỗi giá trị du lịch miền núi A Lưới. Nguyên nhân cốt lõi khiến các thuộc tính cơ sở hạ tầng giao thông và dịch vụ lưu trú rơi vào vùng báo động (góc phần tư C) bắt nguồn từ địa hình hiểm trở, khoảng cách địa lý hơn 70 km kết nối từ trung tâm đô thị Huế qua đèo dốc quanh co trên Quốc lộ 49, cùng với việc nguồn vốn đầu tư công phân bổ cho hạ tầng du lịch còn dàn trải.

Hơn nữa, rào cản nhân lực tại 61 hộ khảo sát cho thấy tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo bài bản về nghiệp vụ buồng phòng, bàn bar và kỹ năng hướng dẫn viên du lịch sinh thái chiếm trên 75%. Người dân địa phương vận hành dịch vụ hoàn toàn dựa trên kinh nghiệm tự phát và thói quen sinh hoạt thường nhật. Điều này lý giải vì sao mức thu nhập của 500 lao động chỉ dừng lại ở ngưỡng 2,5 đến 3,5 triệu đồng/tháng, khó tạo động lực chuyển dịch sinh kế hoàn toàn từ nông nghiệp sang du lịch dịch vụ.

Đối chiếu với bài học kinh nghiệm từ Hợp tác xã du lịch cộng đồng Nậm Hồng (Hoàng Su Phì, Hà Giang) và mô hình làng du lịch thích ứng thời tiết tại Tân Hóa (Minh Hóa, Quảng Bình), điểm khác biệt mấu chốt nằm ở cơ chế hợp tác ba bên: Chính quyền - Doanh nghiệp lữ hành - Cộng đồng địa phương. Tại Hoàng Su Phì và Tân Hóa, doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân dẫn dắt thị trường, hỗ trợ đào tạo chuẩn hóa dịch vụ và đảm bảo nguồn khách thường xuyên, trong khi các hợp tác xã cộng đồng quản trị việc chia sẻ quyền lợi công khai. Tại A Lưới, sự gắn kết với các doanh nghiệp lữ hành lớn ở trung tâm Huế hay Đà Nẵng còn lỏng lẻo, khiến các điểm đến như thác A Lin, suối Parle thường xuyên rơi vào cảnh quá tải cục bộ vào dịp lễ tết nhưng lại vắng vẻ vào các tháng mùa mưa.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả định lượng và ma trận định vị IPMA, đề án xây dựng 5 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại huyện A Lưới trong giai đoạn 2025 - 2030:

  1. Nâng cao năng lực và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng: Ủy ban nhân dân huyện A Lưới chủ trì phối hợp với các cơ sở đào tạo du lịch tại Huế tổ chức tối thiểu 12 khóa tập huấn thực hành trong giai đoạn 2025 - 2027. Chương trình tập trung bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp tiếng Anh du lịch cơ bản, quy trình vệ sinh an toàn thực phẩm, nghiệp vụ đón tiếp homestay và kỹ năng sơ cứu an toàn dưới nước cho toàn bộ 500 lao động tại các xã Hồng Kim, Hồng Vân, Hồng Hạ và A Roàng.
  2. Hoàn thiện đồng bộ hạ tầng giao thông và tiện ích số: Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện A Lưới ưu tiên bố trí vốn nâng cấp dứt điểm 3 tuyến đường liên xã kết nối trực tiếp vào điểm du lịch thác A Lin, suối Parle và suối khoáng nóng A Roàng trước quý 4 năm 2026. Lắp đặt 10 điểm phát wifi miễn phí và hệ thống bảng chỉ dẫn song ngữ tích hợp mã QR tra cứu văn hóa bản địa tại các làng du lịch cộng đồng A Nôr và Paris - Kavin.
  3. Thiết lập thể chế phối hợp đa bên và cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch: Thành lập Ban Điều phối Du lịch Cộng đồng cấp huyện có sự đại diện của chính quyền, đại diện của 5 doanh nghiệp lữ hành chiến lược và đại diện các tổ hợp tác thôn bản. Ban hành quy chế quản lý tài chính bắt buộc, trích tỷ lệ từ 10% đến 15% tổng nguồn thu phí tham quan vào Quỹ phát triển thôn bản nhằm tái thiết hạ tầng công cộng và hỗ trợ các hộ nghèo không trực tiếp kinh doanh.
  4. Mở rộng chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ kinh doanh: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội huyện A Lưới triển khai gói vay vốn ưu đãi với lãi suất dưới 5% mỗi năm, phấn đấu hỗ trợ ít nhất 100 hộ gia đình tiếp cận nguồn vốn trong lộ trình 2025 - 2028 để cải tạo không gian homestay truyền thống, trang bị hệ thống xử lý nước thải sinh thái và phát triển các sản phẩm dệt dèng đạt chuẩn OCOP từ 3 đến 4 sao.
  5. Đa dạng hóa chuỗi sản phẩm trải nghiệm bản địa: Phòng Văn hóa - Thông tin huyện xây dựng chương trình tour trải nghiệm gắn kết văn hóa dân tộc Pa Cô, Tà Ôi với các di tích lịch sử cách mạng như đồi A Bia, động Tiên Công và sân bay A So, hướng tới mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 1,2 ngày hiện nay lên 2,5 ngày vào năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch: Sở Du lịch thành phố Huế, Ủy ban nhân dân huyện A Lưới cùng chính quyền các xã miền núi có thể khai thác bộ dữ liệu thực chứng và hệ thống thang đo 18 thuộc tính làm cơ sở xây dựng kế hoạch hành động phát triển kinh tế du lịch nông thôn, đồng thời ban hành các chính sách điều tiết phù hợp với Nghị quyết Đảng bộ huyện.
  2. Các doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư: Doanh nghiệp du lịch đang tìm kiếm cơ hội khai thác thị trường 212.945 lượt khách tại miền Trung có thể sử dụng thông tin trong luận văn để thiết kế các tour sinh thái - văn hóa chuyên đề, nắm bắt đặc thù tâm lý cộng đồng và chủ động ký kết hợp đồng liên kết bao tiêu dịch vụ bền vững.
  3. Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành kinh tế, du lịch: Nghiên cứu cung cấp một điển hình khoa học về quy trình ứng dụng mô hình ma trận IPMA kết hợp phân tích SPSS trên mẫu khảo sát 61 hộ dân, làm tài liệu tham khảo phương pháp luận cho các đề tài nghiên cứu sinh kế, quản lý tài nguyên và du lịch cộng đồng vùng dân tộc thiểu số.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và hiệp hội phát triển cộng đồng: Các tổ chức phát triển xã hội có thể dựa vào các phát hiện về khoảng cách thu nhập (2,5 - 3,5 triệu đồng/tháng) và rào cản đào tạo nghề để thiết kế các dự án tài trợ sinh kế phi nông nghiệp, bảo tồn tri thức dân gian và trao quyền bình đẳng cho phụ nữ vùng cao.

Câu hỏi thường gặp

  1. Yếu tố nào đóng góp lớn nhất vào mức tăng trưởng doanh thu gấp 10 lần của du lịch A Lưới năm 2024? Sự tăng trưởng vượt bậc từ khoảng 4 tỷ đồng năm 2020 lên gần 40 tỷ đồng năm 2024 xuất phát từ việc khai thác hiệu quả các điểm du lịch trọng điểm như làng A Nôr, suối Parle, cùng sự phục hồi mạnh mẽ của thị trường nội địa với 158.945 lượt khách sau đại dịch.

  2. Phương pháp phân tích ma trận IPMA hỗ trợ gì cho công tác quy hoạch du lịch địa phương? Phương pháp IPMA lượng hóa 18 thuộc tính trên 4 góc phần tư trực quan, giúp các nhà quản lý huyện A Lưới nhận diện chính xác các điểm nghẽn nghiêm trọng thuộc góc phần tư C như hạ tầng giao thông và kỹ năng nhân lực để ưu tiên ngân sách giải quyết dứt điểm.

  3. Thu nhập 2,5 đến 3,5 triệu đồng/tháng của 500 lao động du lịch tại A Lưới phản ánh điều gì? Con số này chứng minh du lịch sinh thái cộng đồng đã tạo ra nguồn sinh kế bổ trợ thiết thực cho đồng bào Pa Cô, Tà Ôi; tuy nhiên mức thu nhập này chưa đủ sức cạnh tranh để trở thành nguồn sinh kế độc lập hoàn toàn nếu thiếu sự chuẩn hóa dịch vụ lưu trú.

  4. Huyện A Lưới có thể rút ra bài học kinh nghiệm cốt lõi nào từ mô hình du lịch Tân Hóa tại Quảng Bình? Bài học quan trọng nhất từ Tân Hóa là xây dựng cơ chế hợp tác ba bên bền vững, trong đó doanh nghiệp lữ hành chuyên nghiệp giữ vai trò đầu tàu chuẩn hóa quy trình dịch vụ và cam kết nguồn khách, giúp cộng đồng địa phương phát triển dịch vụ ổn định mà không bị tự phát.

  5. Vì sao lượng khách quốc tế năm 2024 tại A Lưới chỉ đạt khoảng 54.000 lượt khách? Dù chiếm tỷ lệ khoảng 25,36% tổng lượt khách, dòng khách quốc tế đến A Lưới còn hạn chế do rào cản ngoại ngữ của 61 hộ dân khảo sát, hạ tầng giao thông đường đèo hiểm trở kéo dài hơn 70 km từ Huế, và sự thiếu vắng các sản phẩm trải nghiệm văn hóa cao cấp.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng và thiết lập bộ thang đo đánh giá gồm 18 thuộc tính đo lường 5 nhóm yếu tố cốt lõi.
  • Phản ánh trung thực thực trạng phát triển du lịch huyện A Lưới giai đoạn 2022 - 2024 với quy mô 212.945 lượt khách và doanh thu đạt gần 40 tỷ đồng.
  • Chỉ rõ những điểm nghẽn phát triển tại 61 hộ khảo sát thông qua ma trận IPMA, đặc biệt là sự thiếu hụt về hạ tầng giao thông, kỹ năng nhân lực và cơ chế chia sẻ lợi ích.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, kết hợp chặt chẽ vai trò của chính quyền huyện, doanh nghiệp lữ hành và cư dân bản địa giai đoạn 2025 - 2030.
  • Định hình mô hình sinh kế xanh giúp nâng cao thu nhập cho 500 lao động địa phương, đồng thời bảo tồn đa dạng sinh học và bản sắc văn hóa các dân tộc Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu.

Đóng góp lớn nhất của đề án thạc sĩ là việc lượng hóa các thành tố phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại một huyện miền núi đặc thù, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách công. Lộ trình triển khai tiếp theo cần tập trung vào việc hoàn thành nâng cấp hạ tầng 3 tuyến đường liên xã trọng điểm trước năm 2026 và phổ cập đào tạo nghiệp vụ cho 100% lao động cộng đồng đến năm 2027. Các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp cận trọn vẹn luận văn để áp dụng hiệu quả vào thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội địa phương.