CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN C C CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SINH KẾ BỀN VỮNG Hầu hết các nghiên về sinh kế bền vững tiếp cận dựa trên 3 hướng cơ bản: (1) Dựa vào tài sản sinh kế và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế; (2) Dựa vào phân tích tính bền vững của sinh kế; (3) Phương pháp đo lường sinh kế bền vững. Tổng quan các công trình nghiên cứu sinh kế bền vững trên thế giới 1. Một số công trình nghiên cứu sinh kế bền vững dựa trên các lợi thế về nguồn lực sinh kế của địa phương Dựa vào các lợi thế về nguồn lực sinh kế của địa phương để thực hiện cải thiện, chuyển đổi hay phát triển các hoạt động sinh kế, các nghiên cứu đã xây dựng hoặc sử dụng công cụ khung phân tích như một phương pháp nghiên cứu. Teresa–Chang Hung Tao (2006), Fujun Shen (2009) [71], [75] nhận định hoạt động du lịch như là một chiến lược sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư sinh sống ở Đài Loan, Trung quốc.
Nghiên cứu cho rằng, lợi thế nguồn lực phát triển du lịch là cơ sở để thực hiện mục đích chuyển đổi sinh kế và cải thiện hoạt động sinh kế kém bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn. Từ đó, địa phương cần thực hiện các chính sách hỗ trợ chuyển đổi sinh kế. Nghiên cứu chỉ ra rằng, thực hiện sinh kế du lịch bền vững phải kết hợp sự giao thoa về “sinh kế nông thôn bền vững; Du lịch bền vững; Du lịch nông thôn”. Trong đó, vốn thể chế được xem trọng như các nguồn vốn sinh kế khác, đây cũng là sự khác biệt lớn nhất của nghiên cứu so với DFID (1999) [71].
Muhammad Asiful Basar (2009) ở Bangladesh chú trọng đến nguồn lực đất đai, cho rằng năm nhóm đất đai với quy mô khác nhau sẽ có những lợi thế khác nhau để lựa chọn phát triển sinh kế, đồng thời thực hiện phân tích năm nguồn vốn sinh kế để nhận định điểm mạnh và điểm yếu theo mức sống của các địa phương. Kết quả là có bốn mức thu nhập khác nhau [59]. Như vậy các nghiên cứu trên chú trọng đến việc phân tích lợi thế các hoạt động sinh kế trên cơ sở nguồn lực mặt nước, nguồn lực đất đai, địa danh thắng cảnh…để đánh giá những lợi thế và hạn chế của các hoạt động sinh kế, chỉ ra các kết quả sinh kế, từ đó đưa ra hàm ý chính sách và giải pháp nhằm phát triển sinh kế bền vững. Tuy nhiên các nghiên 6 cứu này chỉ đánh giá các hoạt động sinh kế riêng lẻ, bối cảnh nghiên cứu tập trung trên 70% người dân tham gia các hoạt động thủy sản, hoặc một số đối tượng là những người có đào tạo và khả năng đầu tư, thiếu tính cộng đồng (trừ người nghèo) [46], hoặc xem trọng nguồn lực tự nhiên [59].
Một số công trình nghiên cứu sinh kế bền vững vùng đệm dựa trên việc sử dụng mô hình các nhân tố ảnh hưởng Các nghiên cứu này chú trọng việc sử dụng các mô hình nhân tố ảnh hưởng để đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố tác động đến hoạt động sinh kế, mà chủ yếu là các sinh kế phụ thuộc nguồn lực tự nhiên của khu bảo tồn hoặc vườn quốc gia như: Obong Linus Beba và cộng sự (2013) phân tích thực trạng sinh kế của vùng đệm tại Vườn quốc gia Cross River. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm ảnh hưởng đến vườn quốc gia, trong đó sản xuất nông nghiệp xâm lấn đất rừng chiếm 20%; săn trộm 15,2%; thu hoạch dược liệu 6,4%; khai thác gỗ 3,6% và hoạt động khác 12,8%. Các hoạt động này bị ảnh hưởng của các nhân tố về quy mô khai thác, diện tích đất canh tác, trình độ giáo dục, giới tính của chủ hộ…[63]. Teija Reyes (2008) đã nhận định hoạt động nông, lâm truyền thống của người dân vùng đệm có thể có những thay đổi tích cực hơn nếu chính quyền địa phương có những chính sách hợp lý như: (1) Quản lý rừng có sự tham gia của người dân để nâng cao vai trò quản lý tài nguyên thiên nhiên; (2) Thay đổi ý thức của người dân thông qua sự hoàn chỉnh các thể chế chính trị của tổ chức trong việc nâng cao vai trò của nông nghiệp và lâm nghiệp trong giảm nghèo.
Các hoạt động sinh kế này có sự khác nhau giữa các địa phương do khoảng cách từ nơi ở đến khu bảo tồn, quy mô đất, thu nhập, lương thực…; Trong đó chỉ 6% số người được khảo sát cho là không có sự sụt giảm của năng suất; 65% ý kiến cho rằng sụt giảm do biến đổi khí hậu và 19% năng suất sụt giảm do suy thoái môi trường. Nguyên nhân về những kết quả trên là do thiếu vốn (37%), thiếu thị trường (37%), thiếu đào tạo (37%), thiếu nhận thức (37%), thiếu phân bón (33%), thiếu nhân lực (28%), thiếu đất canh tác (12%) và độ tin cậy của việc giải thích này lên đến 73% [66]. A (2015) đưa ra 4 mô hình hồi quy Tobit với 11 nhân tố ảnh hưởng xác suất mà người dân sẽ tham gia khai thác kết hợp các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ. Kết quả 4 mô hình phản ánh sự kết hợp (số loài) lâm sản ngoài gỗ được khai 7 thác sẽ ảnh hưởng đến tài nguyên rừng và khu bảo tồn khác nhau.
Trong đó nhân tố dân số và quy mô nhân khẩu hộ gia đình giải thích đến 73% [78]. Việc tiếp cận phân tích sự bền vững sinh kế của các nghiên cứu chỉ ra rằng: tính bền vững của sinh kế được phản ánh trên các phương diện về kinh tế, xã hội, môi trường và cấu trúc thể chế và quy trình chính sách. Các tiêu chí này cho phép nhận định một cách toàn diện về tác động tiêu cực và tích cực đến sự bền vững của sinh kế. Downie (2015) sử dụng thuyết hành vi dự định để thăm dò hành vi của người dân vùng đệm Vườn quốc dân Saadani về khả năng mở rộng hay chuyển đổi sinh kế cũng như mục tiêu sản xuất lâu dài.
Từ đó đưa ra bốn khuyến nghị là nên thay đổi một phần, tăng cường nguồn lực, giữ nguyên hiện trạng hoặc nên thay thế sinh kế mới. Bốn lĩnh vực sinh kế mà người dân vùng đệm tham gia gồm sinh kế phụ thuộc tài nguyên, thu nhập từ lương, từ các hoạt động kinh doanh và nguồn khác [38]. Lamsal và cộng sự (2015) chỉ ra rằng thu nhập từ hoạt động khai thác từ tài nguyên vùng bảo tồn chiếm 12,4% tổng thu nhập của hộ gia đình [56]. Winin Zakiah và cộng sự (2015) nghiên cứu sinh kế bền vững tại vùng đệm vườn quốc gia Sebangau, đó là một vùng đầm lầy than bùn.
Nghiên cứu đánh giá thực trạng của 5 nguồn vốn sinh kế và cho rằng 5 nguồn vốn sinh kế đều ảnh hưởng đến mọi hoạt động sinh kế của con người, năm nguồn vốn này cũng được phát triển thành chỉ số chính trong cách tiếp cận của khung phân tích sinh kế. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khả năng tiếp cận các nguồn vốn đến phát triển kinh tế của ngư dân vùng đệm rất thấp cận dưới 50%. Tác giả cũng nhận định, kích thước bền vững của sinh kế thực sự phải dựa các trên tiêu chí về bền vững về môi trường, về xã hội, về kinh tế và cấu trúc và quy trình thể chế diễn ra theo hướng tăng cường tính bền vững các hoạt động sinh kế [80]. Đây được xem là nghiên cứu thực tiễn điển hình về sinh kế bền vững của người dân vùng đệm VQG.
Các nghiên cứu này chỉ tập trung phân tích mô hình nhân tố ảnh hưởng của các sinh kế truyền thống và chú trọng các sinh kế phụ thuộc nguồn lực tài nguyên Vườn quốc gia, các nhân tố ảnh hưởng chỉ phản ánh tính quy mô về vốn nhân lực, tự nhiên, xã hội, tài chính ở một số hoạt động sinh kế; hoặc xuất phát từ việc khai thác thiếu bền vững và quy trình thể chế chính sách chưa rõ ràng. Mục tiêu của nghiên cứu làm rõ lợi thế hoạt động khai thác ít tác động tiêu cực đến tài nguyên vườn quốc gia [63]. Nghiên cứu cũng nhận định các nhân tố ảnh hưởng lớn đến quy mô khai thác và số loài khai thác [76]. Phương 8 pháp khảo sát về hành vi dự định được xem là phương pháp định tính có ý nghĩa cho việc quy hoạch, định hướng trong phát triển sinh kế theo hướng bền vững [38].
Winin Zakiah và cộng sự (2015) làm rõ hơn về các tiêu chí đánh giá mức độ bền vững về sinh kế và xem vai trò của năm nguồn vốn sinh kế phản ánh đến mọi quá trình phát triển các hoạt động sinh kế, bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra được kích thước đánh giá bền vững sinh kế dựa trên 4 tiêu chí đánh giá về bền vững môi trường, bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững về thể chế - chính sách [80]. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ tập trung phân tích các mô hình nhân tố ảnh hưởng một số hoạt động sinh kế truyền thống, chú trọng đến sinh kế phụ thuộc nguồn lực tài nguyên đối với một số các hoạt động sinh kế. Bên cạnh đó, chưa có khung lý thuyết hoàn chỉnh làm cơ sở để đánh giá sinh kế bền vững ở vùng đệm, hệ thống chỉ tiêu về chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp đánh giá sinh kế bền vững chưa rõ ràng. Một số công trình nghiên cứu sinh kế bền vững dựa trên việc sử dụng chỉ số đo lường sinh kế bền vững Thời gian gần đây, nhiều nghiên cứu về sinh kế bền vững đã sử dụng chỉ số tổng hợp để đo lường mức độ bền vững về sinh kế.
Các đánh giá sinh kế bền vững theo chỉ số đầu tiên được CARE ở Ấn Độ và Sri Lanka sử dụng từ năm 1995 đến 1997. CARE đã đưa ra chỉ số an ninh sinh kế (Security Livelihoods Index_SLI) với mục đích của chỉ số là để cung cấp rõ ràng hơn về hạn chế đối với an ninh sinh kế hộ nghèo ở nông thôn. Đến nay, chỉ số này được nhiều nghiên cứu sử dụng để đánh giá như: Suresh Kumara & A. Biswasa (2014) [73], Lindenberg (2002)[57], Saijad Haroon, et al.
Chỉ số đo lường dựa trên năm khía cạnh: an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an toàn sức khỏe, an ninh giáo dục và phân quyền (Lindenberg, 2002), việc phát triển các thành phần của chỉ số được sử dụng như nghiên cứu của Hahn et al. CARE cho rằng, phát triển bộ chỉ tiêu để đánh giá mỗi hộ gia đình dựa vào cuộc họp, thảo luận liên quan của một số tổ chức phi chính phủ (CARE, 2004).