MỞ ĐẦU Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập nước Vân Long nằm trong mục tiêu và định hướng của ―Kế hoạch hành động quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện công ước đa dạng sinh học và nghị định thư Cartagena về ―An toàn sinh học‖ ban hành kèm Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg, nhằm bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học đất ngập nước; xây dựng năm khu đất ngập nước đủ tiêu chuẩn, điều kiện để công nhận khu Ramsar‖. Vân Long là khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước nội địa đầu tiên ở Việt Nam với sự đa dạng sinh học cao, với nhiều loài động thực vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam, đặc biệt là loài Voọc Quần đùi trắng (Trachypithecus delacouri) - một loài đặc hữu của Việt Nam, là 1 trong 25 loài linh trưởng đang bị đe dọa tuyệt chủng ở mức toàn cầu. Ngày 18/12/2010 Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục Vân Long là nơi có cá thể Voọc Quần đùi trắng sinh sống nhiều nhất. Ngoài ra phong cảnh tự nhiên ở Vân Long rất đẹp với những khối núi đá vôi đồ sộ được bao bọc xung quanh bởi vùng đất ngập nước là các con sông và một vùng hồ nông có thảm thực vật ngập nước.
Tuy nhiên, hiện nay đa dạng sinh học và môi trường nơi đây lại đang bị đe dọa bởi các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là tác động của cộng đồng. Việc khai thác quá mức gỗ và củi là mối đe dọa chính đối với tính đa dạng sinh học và đã dẫn đến hầu hết rừng ở khu vực bị phá hủy. Khả năng tái sinh tự nhiên của thảm rừng cũng bị hạn chế nhiều do chăn thả dê trên các núi đá vôi, hoạt động khai thác đá cũng tác động rất lớn đến môi trường tự nhiên nơi đây. Du lịch sinh thái được xem là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa có giáo dục môi trường, đóng góp cho bảo tồn với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.
Do đó du lịch sinh thái được xác định là loại hình ưu tiên trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 (Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch, 2012) dưới góc độ bảo tồn thiên nhiên môi trường nói chung và đa dạng sinh học nói riêng. 1 z Trong bối cảnh đó đề tài: ―Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái phục vụ bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập nước Vân Long‖ không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn góp bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. 2 z Chƣơng 1 - TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 1. Khái niệm về du lịch sinh thái 1.
Trên Thế giới Làm thế nào để vừa phát triển được du lịch, vừa bảo vệ được thiên nhiên và những quyền lợi của người dân địa phương? Một trong những giải pháp được xây dựng và hưởng ứng là du lịch có hướng dẫn, du lịch có trách nhiệm với thiên nhiên và cộng đồng dân cư địa phương. Ý tưởng đó bắt đầu được thực hiện từ khoảng 20 năm gần đây và dần dần hình thành nên du lịch sinh thái ngày nay. Năm 1984, Hiệp hội du lịch sinh thái có đưa ra định nghĩa: ―Du lịch sinh thái là loại hình du lịch trách nhiệm đến những vùng tự nhiên, có hỗ trợ bảo tồn quần thể tự nhiên và phát triển bền vững cộng đồng. Năm 1991, theo Boo: ―Du lịch sinh thái là loại hình du lịch diễn ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên còn bảo tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng, thưởng thức phong cảnh, động thực vật cũng như các giá trị văn hóa hiện hữu.
Năm 1994, Quỹ bảo tồn thiên nhiên hoang dã (WWF) đã đưa ra quan điểm về du lịch sinh thái như sau: - Du lịch sinh thái nên quan tâm tới tự nhiên và văn hóa mà du khách sẽ tới trải nghiệm; - Du lịch sinh thái nên góp phần vào việc bảo tồn thiên nhiên và đem lại lợi ích về mặt kinh tế cho cộng đồng địa phương; - Du lịch sinh thái hầu như có quy mô nhỏ nhưng đáp ứng được nhu cầu cao của cả du khách và nhà điều hành tour; - Du lịch sinh thái giúp du khách có thêm kiến thức và sự tôn trọng, đánh giá cao cho các yếu tố về thiên nhiên, văn hóa, môi trường và sự phát triển. - Theo David Western (1999) du lịch sinh thái thực sự là một hỗn hợp các mối quan tâm xuất phát từ các trăn trở về môi trường, kinh tế, xã hội. Các nhà bảo tồn đang bỏ công sức đáng kể để đón du lịch sinh thái như một tác nhân đắc lực cho bảo tồn thiên nhiên. Ngày nay, du lịch đã trở thành một trong những hoạt động 3 z kinh tế lớn nhất trên toàn cầu - một cách để trả nợ cho bảo tồn thiên nhiên và tăng giá trị của những khu thiên nhiên còn lại.
Du lịch sinh thái được hiểu như một ngành kinh tế phát triển bền vững với dòng tiền chuyển từ du khách vào hoạt động bảo tồn. Năm 2001, theo Weaver nhận định có 3 tiêu chí trọng tâm được lặp lại trong hầu hết các định nghĩa, đó là: - Dựa vào thiên nhiên - Có tính bền vững - Có yếu tố về giáo dục hay nhận thức. Năm 2002, Page và Dowling đưa thêm 2 yếu tố mà du lịch sinh thái nên có: - Đem lại lợi ích cho cộng đồng - Và sự hài lòng, thỏa mãn cho du khách. Tại Việt Nam Năm 1999, Tổng cục Du lịch (VNAT) đã phối hợp với một số tổ chức quốc tế như ESCAP, WWF, IUCN tổ chức hội thảo quốc gia về: ―Xây dựng Chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam‖.
Hội thảo đã đưa ra một định nghĩa về Du lịch sinh thái như sau: ―Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp tích cực cho bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương‖. Năm 2005, Luật Du lịch Việt Nam đã xác định: ―Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững‖. Theo quy chế quản lý hoạt động du lịch sinh thái tại các Vườn Quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên ban hành kèm Quyết định số 104/2007/QĐ-BNN, ngày 27/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: ―Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch trong tương lai‖. 4 z Như vậy có thể thấy quan điểm về du lịch sinh thái được thể hiện ở nhiều dạng khác nhau tùy theo nhận thức, quan điểm các nhà nghiên cứu của các tổ chức và tùy vào điều kiện đặc thù của các Quốc gia, các khu vực địa lý, hành chính khác nhau.
Nơi nào ý thức trách nhiệm đối với thiên nhiên cao hơn thì tiêu chí thiên nhiên hoang sơ được đề cập đến nhiều hơn. Có những nơi ý thức bảo tồn thiên nhiên cũng như yếu tố tiêu chí giáo dục môi trường, sinh thái, tiêu chí về quản lý bền vững được chú trọng nhiều hơn. Nhận định chung: Cách nhìn nhận du lịch sinh thái hiện nay cũng khá mở và cho dù có những khác biệt nhất định nhưng đa số các chuyên gia và tổ chức quốc tế đều thống nhất những nội dung cơ bản mà du lịch sinh thái cần phải có, đó là: - Du lịch sinh thái là một loại hình phát triển du lịch bền vững, được quản lý bền vững; - Là loại hình dựa vào thiên nhiên là chính (đặc biệt là ở những khu vực còn hoang sơ, được bảo tồn tương đối tốt); - Có hỗ trợ bảo tồn (không làm thay đổi tính toàn vẹn của hệ sinh thái, nguồn thu được từ hoạt động du lịch sinh thái được đầu tư cho công tác bảo tồn, bảo vệ môi trường…); - Có các hoạt động, hình thức giáo dục về môi trường và sinh thái; - Có sự tham gia chia sẻ lợi ích cộng đồng (khuyến khích sự tham gia cộng đồng trong các hoạt động và dịch vụ cho du lịch sinh thái như hướng dẫn viên địa phương, kinh doanh lưu trú, ăn uống, tạo các sản phẩm bổ trợ khác…). Quan điểm trên có thể làm cơ sở để đối sánh những hoạt động du lịch đang diễn ra hiện nay tại Việt Nam, đồng thời có thể định hướng giúp các nhà hoạch định chiến lược phát triển du lịch sinh thái của nước ta, từ đó có thể vạch ra những chiến lược, kế hoạch khai thác và phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam.
Trên thực tế ở Việt Nam, quan điểm về Du lịch sinh thái cũng có những yếu tố chưa được hiểu một cách thống nhất giữa những người làm du lịch và các bên liên quan. Nếu hiểu du lịch sinh thái đúng như thực chất là phải có đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng địa phương một cách trực tiếp bằng các lợi ích tài 5 z chính cụ thể như việc làm và tiền lương nhân công, trích nguồn thu tái đầu tư cho phúc lợi xã hội của cộng đồng địa phương, bù đắp cho công tác bảo vệ môi trường sinh thái tại chỗ… và như vậy thì hoạt động du lịch sinh thái hiện nay chưa được triển khai theo đúng nghĩa của nó. Đặc điểm của du lịch sinh thái Trong thực tế, có một số hình thức du lịch có những đặc điểm và tính chất tương tự như du lịch sinh thái vì yếu tố tiền đề của những loại hình du lịch này là dựa vào nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên như du lịch thiên nhiên, du lịch mạo hiểm, du lịch hoang dã, du lịch nông thôn… Thực chất, du lịch sinh thái có những đặc điểm khác biệt nhất định so với các loại hình khác. Bên cạnh những đặc điểm, tính chất chung của hoạt động du lịch như tính đa ngành, đa thành phần, đa mục tiêu, tính liên vùng, tính liên quốc gia, tính mùa vụ, …, du lịch sinh thái còn có những đặc tính riêng cơ bản sau: - Tính thân thiện với môi trường: Các hình thức hoạt động du lịch sinh thái đều mang tính thân thiện môi trường cao.