phần mở đầu, kiến nghị và kết luận, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Du lịch quốc tế - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động du lịch quốc tế của Việt Nam Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động du lịch quốc tế ở Việt Nam 4 CHƢƠNG 1: DU LỊCH QUỐC TẾ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm cơ bản về du lịch quốc tế Du lịch là một trong những lĩnh vực hấp dẫn. Đặc biệt là trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực gia tăng, hầu hết mỗi chúng ta đều luôn muốn tìm hiểu về thế giới bên ngoài tầm nhìn nơi mình đang sống. Chúng ta muốn biết về cảnh quan, con người, nền văn hoá - xã hội.
ở những thành phố, quốc gia khác. Ngày nay, do ảnh hưởng của giáo dục, với sự phát triển của truyền hình và các phương tiện viễn thông đã đem lại cho chúng ta những nhận thức, quan điểm rộng lớn về thế giới. Nền kinh tế phát triển và mức sống của người dân được nâng cao đã khiến cho hàng trăm triệu người có thể đi du lịch. Mỗi người có nhiều lý do để đi du lịch, nhưng lý do thông thường là giải trí, công tác, kinh doanh, học tập, chữa bệnh.
Cách đây khoảng gần một triệu năm, tổ tiên loài người sau một thời gian dài sinh sống, đông thêm và do các nguyên nhân khác nữa bắt đầu di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Một trong số đó là người Homo Erectus vốn xuất phát từ miền Đông và miền Trung châu Phi, nhưng di tích của những người tiền sử này đã được tìm thấy ở Bắc Kinh (Trung Quốc) và Java (Indonesia). Sự di chuyển qua một khoảng cách rất xa như vậy trong buổi ban đầu của lịch sử nhân loại ước diễn ra trong khoảng 15 vạn năm. Có giả thuyết cho rằng những người tiền sử này du mục để tìm thức ăn và trốn tránh nguy hiểm.
Giả thuyết khác là con người quan sát sự di chuyển của những loài chim, muốn biết chúng từ đâu đến và bay đi đâu nên họ đã di chuyển theo mặc dù nơi họ đang cư trú không thiếu nguồn thức ăn. Thời Cổ và Trung đại, kinh tế - xã hội phát triển, do tác động của quan hệ giao lưu chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, truyền giáo. việc khám phá các vùng đất nước, các tộc người mới và văn hóa ở đó, làm cho du lịch dần dần trở thành một nhu cầu. Đến cuối thời Trung cổ, du lịch được tiến hành một cách có tổ chức.
Ở thời kỳ diễn ra những hoạt động của các nhà thám hiểm nổi tiếng như Macro Polo và Christopher Columbus, du lịch ngày càng phát triển. Trong thế kỷ XX, việc phát minh xe ôtô và đường xá sử dụng được trong mọi thời tiết đã khiến du lịch tăng trưởng vượt bậc. Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, việc phát minh máy bay phản lực, nhất là 5 loại thân rộng và việc thiết lập các chuyến bay quốc tế đã làm cho hàng triệu người có thể đi du lịch nhanh chóng. Các du thuyền, xe buýt có trang thiết bị tân tiến, tàu hoả hiện đại, khách sạn và các khu nghỉ dưỡng đã cung cấp cho du khách các phương tiện vận chuyển, cơ sở lưu trú đầy hấp dẫn và đầy đủ tiện nghi.
Do đó, ngành du lịch quốc gia và du lịch quốc tế đã có bước phát triển vượt bậc. Trong lịch sử nhân loại, từ khá sớm, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu quan trọng trong đời sống văn hoá - xã hội của các nước. Du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng - ngành công nghiệp du lịch của nhiều nước công nghiệp phát triển.
Đối với các nước đang phát triển, du lịch được coi là một trong những nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Các khái niệm về du lịch quốc tế Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở cả các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Du lịch là một hiện tượng phức tạp. Nó liên quan đến hoạt động nghỉ ngơi của con người cũng như các hoạt động kinh tế phục vụ mục đích đó.
Trong quá trình phát triển, nội dung của khái niệm du lịch không ngừng mở rộng. Thuở ban đầu, du lịch được hiểu đơn thuần là các chuyến đi xa ra khỏi nơi cư trú để thoả mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh. Sau này, các nhà truyền giáo, các quan chức Nhà nước, các nhà thể thao, những người hâm mộ. cũng có được những kết quả ấy sau các chuyến đi.
Vì lẽ đó, khái niệm du lịch ngày càng được hiểu rộng hơn. Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ. Định nghĩa này là cơ sở cho định nghĩa du khách đã được Liên minh quốc tế các tổ chức du lịch, tiền thân của Tổ chức du lịch thế giới thông qua.
Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam đã tách 2 nội dung cơ bản của du lịch thành 2 phần riêng biệt. Theo các chuyên gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con 6 người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật. Theo nghĩa thứ hai, du lịch được coi là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ. Trong Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam, Điều 10, thuật ngữ du lịch được hiểu như sau: "Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu thăm quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định".3] Ngày 4-3-1993, Hội đồng thống kê Liên hợp quốc đã công nhận các thuật ngữ sau theo đề nghị của WTO để thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch (ở đây chỉ tập trung làm rõ các khái niệm liên quan đến du lịch quốc tế): - Du lịch vào trong nước (Inbound tourism) gồm những người từ nước ngoài đến thăm một quốc gia.
- Du lịch ra nước ngoài (Outbound tourism) gồm những người đang sống trong một quốc gia đi thăm viếng nước ngoài. Tổ chức du lịch thế giới (WTO) cũng đưa ra khái niệm được Liên hợp quốc công nhận như sau: Du khách quốc tế (International tourist) là người lưu trú ít nhất một đêm, nhưng không vượt quá một năm, tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú. Du khách có thể đến với nhiều lý do khác nhau, không lĩnh lương nơi đến. Ở Việt Nam, theo Điều 20, chương IV Pháp lệnh Du lịch, những người được thống kê là du khách quốc tế phải có các tiêu chí cơ bản sau: - là người nước ngoài hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch - là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.
Mục đích chuyến đi của họ là thăm quan, thăm thân, tham dự hội nghị, khảo sát thị trường, công tác, chữa bệnh, thể thao, hành hương, nghỉ ngơi. 7 Khách thăm quan: là một loại khách đến với mục đích nâng cao nhận thức tại chỗ có kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tinh thần, vật chất hay dịch vụ, song không lưu lại qua đêm tại một cơ sở lưu trú của ngành du lịch. Du khách: là người từ nơi khác đến với/hoặc kèm theo mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất, tinh thần hữu hình hay vô hình của thiên nhiên và/hay của cộng đồng xã hội. Về phương diện kinh tế, du khách là người sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp du lịch như lữ hành, lưu trú, ăn uống.
Do du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là một lĩnh vực kinh tế với đối tượng phục vụ là người đi du lịch nên việc thống nhất khái niệm du khách là một nhu cầu tất yếu. Ngoài mục đích nắm được doanh thu, giúp cơ quan quản lý xác định được nghĩa vụ đối với Nhà nước của doanh nghiệp du lịch, việc thống nhất và chuẩn hoá định nghĩa du khách còn có ý nghĩa làm cho du lịch Việt Nam nhanh chóng hội nhập vào hoạt động thống kê du lịch khu vực và quốc tế. Khái niệm du lịch vẫn đang là đối tượng nghiên cứu và thảo luận của nhiều nhà khoa học, nhiều hội nghị cấp quốc gia và quốc tế nhưng phần lớn các nhà khoa học công nhận rằng du lịch đã và sẽ thay đổi nội dung theo từng giai đoạn phát triển của xã hội loài người và nó sẽ phức tạp hơn trong quá trình quốc tế hoá du lịch thông qua sự hợp tác và phân công lao động quốc tế. Bản chất của du lịch quốc tế Chúng ta có thể tìm hiểu bản chất của du lịch quốc tế thông qua việc xem xét hiện tượng đó từ nhiều góc độ khác nhau.
- Nhu cầu của khách du lịch quốc tế Tuỳ theo nhu cầu và khả năng của mỗi người mà khách du lịch quốc tế sẽ tự xác định địa điểm du lịch và các hoạt động được thực hiện tại đó như một chuyến du ngoạn thưởng thức danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hoá. hay một chuyến viếng thăm người thân, qua đó gắn với an dưỡng, chữa bệnh. nhưng không phải vì mục đích sinh lợi. Cùng với hiện tượng bùng nổ các tour du lịch, ngày nay nhu cầu của khách du lịch quốc tế ngày càng đa dạng, phong phú.