Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch. Thực trạng phát triển khu du lịch Núi Sam thành phố Châu Đốc giai đoạn 2013-2018. Những định hướng và giải pháp phát triển Khu du lịch Núi Sam thành phố Châu Đốc đến năm 2025.
9 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Cơ sở lí luận về du lịch 1. Khái niệm về du lịch và khu du lịch * Du lịch: Du lịch xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người. Mỗi thời đại, quan niệm về du lịch khác nhau, buổi ban đầu thường đi kèm với hoạt động truyền giáo, buôn bán hoặc thám hiểm các vùng đất mới.
Việc cung ứng các dịch vụ cho du khách để thu lợi nhuận với mục tiêu ưu tiên hàng đầu là thương mại hoá các sản phẩm du lịch. Từ đó xuất hiện hình thức du lịch đầu tiên và tồn tại cho đến ngày nay. Thuật ngữ du lịch ngày nay được sử dụng phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên có rất nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của nó.
Năm 1811, định nghĩa du lịch xuất hiện lần đầu tiên ở Anh: “du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lí thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí”. Năm 1925, Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch được thành lập tại Hà Lan, đánh dấu bước ngoặt trong việc thay đổi, phát triển các khái niệm về du lịch. Đầu tiên, du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh. Tháng 6-2005, Tổng cục du lịch Việt Nam ban hành luật du lịch (có hiệu lực từ 01/01/2006) và đưa ra khái niệm: “du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định”.
10 * Khu du lịch: Là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường. Khu du lịch được định nghĩa tại Khoản 6 Điều 3 Luật Du lịch 2017 với nội dung như sau: Khu du lịch là khu vực có ưu thế về tài nguyên du lịch, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Khu du lịch bao gồm khu du lịch cấp tỉnh và khu du lịch quốc gia. Bên cạnh đó tại Điều này còn có định nghĩa về tài nguyên du lịch như sau: Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch.
Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa. * Đặc điểm khu DL: - Khu du lịch cấp địa phương: + Có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút khách du lịch. + Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch cần thiết phù hợp với đặc điểm của địa phương, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất một trăm nghìn lượt khách du lịch một năm. - Khu du lịch cấp quốc gia: + Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn với ưu thế về cảnh quan thiên nhiên, có khả năng thu hút lượng khách du lịch cao.
+ Có cơ sở dịch vụ du lịch phù hợp với cảnh quan, môi trường của khu du lịch khu du lịch. + Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đồng bộ, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất một triệu lượt khách du lịch một năm, trong đó có cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch cần thiết phù hợp với đặc điểm của KDL. Một số khu du lịch cấp quốc gia của Việt Nam 2018 Stt Tên khu du lịch Tỉnh - Thành phố 1 Khu du lịch văn hóa Hương Sơn Hà Nội 2 Khu du lịch nghỉ dưỡng Sa Pa Lào cai 3 Khu di tích lịch sử Kim Liên Nghệ An 4 Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động Ninh Bình 5 Khu du lịch Phong Nha - Kẻ Bàng Quảng Bình 6 Khu du lịch sinh thái - lịch sử Côn Đảo Bà Rịa - Vũng Tàu 7 Khu du lịch sinh thái biển đảo Phú Quốc Kiên Giang “Nguồn: http://www. Một số loại hình du lịch * Du lịch tâm linh Quan niệm về du lịch tâm linh: Du lịch tâm linh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có những quan niệm khác nhau và đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung nhất.
Tuy nhiên, xét về nội dung và tính chất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần. Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác. Theo đó, du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con người trong khi đi du lịch. Đặc điểm du lịch tâm linh ở Việt Nam: - Du lịch tâm linh gắn với tôn giáo và đức tin, trong đó Phật giáo có số lượng lớn nhất (chiếm tới 8 9 %) cùng tồn tại với các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo, Cao đài, Hòa Hảo.
- Du lịch tâm linh gắn với tín ngưỡng thờ cúng, tri ân những vị anh hùng dân tộc, những vị tiền bối có công với nước, dân tộc trở thành du lịch về cội 12 nguồn dân tộc với đạo lí uống nước nhớ nguồn. - Du lịch tâm linh gắn tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dòng tộc, tri ân báo hiếu đối với bậc sinh thành. - Du lịch tâm linh gắn với những hoạt động thể thao tinh thần như thiền, Yoga hướng tới sự cân bằng, thanh tao, siêu thoát trong đời sống tinh thần, đặc trưng và tiêu biểu ở Việt Nam mà không nơi nào có đó là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. - Ngoài ra, du lịch tâm linh ở Việt Nam còn có những hoạt động gắn với yếu tố linh thiêng và những điều huyền bí.
Một số điểm du lịch tâm linh của Việt Nam 2018 Số thứ tự Tên điểm du lịch tâm linh Tỉnh - Thành phố 1 Chùa Hương Hà Nội 2 Chùa Bái Đính Ninh Bình 3 Yên Tử Quảng Ninh 4 Chùa Thiên Mụ Huế 5 Núi Bà Đen + Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh 6 Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam An Giang “Nguồn: http://www.vn” * Du lịch sinh thái Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”. Bản chất của du lịch sinh thái: + Là một hình thức du lịch tự nhiên mang tính khai sáng, góp phần bảo tồn hệ sinh thái mà vẫn tôn trọng sự hoà nhập của các cộng đồng địa phương. + Là một lĩnh vực đặc biệt của du lịch nói chung có đặc trưng là qua những chuyến đi, du khách được tiếp xúc với thiên nhiên bằng phương tiện 13 quan sát đơn giản hay những nghiên cứu có tính hệ thống. * Du lịch văn hóa - Là loại hình du lịch mà du khách muốn được cảm nhận bề dày văn hóa của một nước, một vùng thông qua các di tích lịch sử, văn hóa, những phong tục tập quán, lễ hội còn hiện diện.
- Du lịch văn hóa còn được hiểu: + Là tổng của cải vật chất và của cải tinh thần có liên quan đến du lịch. + Là kết quả tác động lẫn nhau giữa chủ thể du lịch (du khách), khách thể du lịch (tài nguyên du lịch) với môi giới du lịch (ngành du lịch). + Một loại hình thái văn hóa của đời sống du lịch. + Một loại hình thái văn hóa đặc thù, lấy văn hóa giá trị nội tại của văn hóa chung làm chỗ dựa, lấy các yếu tố du lịch làm công tác du lịch tích lũy và sáng tạo ra trong hoạt động du lịch.
* Du lịch nghiên cứu – học tập - Du lịch nghiên cứu - học tập là loại hình du lịch kết hợp với học tập, nghiên cứu nhằm đáp ứng nhu cầu hiểu biết thực tế về địa lí, địa chất, lịch sử, khảo cổ, môi trường, sinh học, khoa học, du lịch. cho khách du lịch. - Đặc điểm cơ bản: + Khách du lịch: chủ yếu là các nhà khoa học, học sinh, sinh viên có nhu cầu tìm hiểu thực tế, phục vụ nghiên cứu khoa học. + Cơ sở hạ tầng: các nhà cung ứng dịch vụ thường xây dựng những phòng học ngoài trời được thiết kế phù hợp với từng nội dung học tập.
Các điểm đến du lịch có đầy đủ các trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho việc tìm hiểu, quan sát, phân tích, nghiên cứu. + Thời gian lưu trú: tùy vào đối tượng, mục đích nghiên cứu, học tập mà thời gian lưu trú có thể là ngắn ngày hay dài ngày. Đa số học sinh, sinh viên tham gia du lịch thường lưu trú trong thời gian ngắn để tìm hiểu thực tế, làm 14 báo cáo môn học. Còn các nhà khoa học thường có thời gian lưu trú dài ngày để làm các công trình nghiên cứu khoa học.
- Hướng dẫn viên du lịch: đa số hướng dẫn viên du lịch là các thầy cô giáo phụ trách chuyên môn, các chuyên gia hoặc người dân địa phương, hướng dẫn viên có kiến thức sâu rộng về điểm đến du lịch. - Điểm đến du lịch: thường là các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển, viện hải dương học, các khu di tích lịch sử, các bảo tàng, công trình kiến trúc, các khu giải trí. * Du lịch MICE - MICE là cụm từ viết tắt theo các chữ cái đầu tiếng Anh của các từ: Meeting (gặp gỡ, hội họp), Incentive (khen thưởng), Convention/ Conference (hội nghị/ hội thảo) và Exhibition/ Event (triển lãm, sự kiện).