Chương 1, điều 4, Luật Du lịch 2005 “Sản phẩm Du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách Du lịch trong chuyến đi Du lịch" [28]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các dịch vụ đó bao gồm: dịch vụ lữ hành, dịch vụ vận chuyển khách, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ thông tin hướng dẫn và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách Du lịch. Tuy nhiên, ngoài các sản phẩm dịch vụ đơn thuần thì “sản phẩm cơ bản trong Du lịch là sự trải nghiệm về điểm đến” (Ritchie và Crounch). Muốn tạo ra sự hấp dẫn và lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm Du lịch thì phải tạo ra cho khách những trải nghiệm đa dạng, có giá trị.
Theo lý thuyết của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), sản phẩm Du lịch được cấu thành từ ba yếu tố chính: tài nguyên Du lịch (gồm những cảnh quan thiên nhiên đẹp nổi tiếng, các kỳ quan, các di sản văn hóa, các di tích lịch sử mang đậm nét đặc sắc văn hóa của các quốc gia, các vùng.), cơ sở Du lịch (gồm mạng lưới cơ sở lưu trú, ăn uống, phương tiện vận chuyển, tiện nghi phục vụ nhu cầu của du khách) và dịch vụ Du lịch (bộ phận này là hạt nhân của sản phẩm Du lịch. Mức chi tiêu của du khách phụ thuộc nhiều vào các loại dịch vụ mà nhà kinh doanh Du lịch cung cấp. Dịch vụ Du lịch là sự liên kết giữa các dịch vụ đơn lẻ nên cần sự phối hợp hài hòa, đồng bộ). Đặc điểm của sản phẩm Du lịch nói chung và sản phẩm Du lịch văn hóa nói riêng là: vô hình (rất dễ bị sao chép), không đồng nhất (khách hàng không thể kiểm tra sản phẩm trước khi mua, gây khó khăn cho quá trình chọn lựa, nên việc quảng cáo là có vai trò rất lớn), quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời (không thể đưa sản phẩm đến với khách hàng mà phải đưa khách hàng đến nơi có sản phẩm), mau hỏng và không thể lưu trữ được.
Khách Du lịch "Du khách là những người từ nơi khác đến với (hoặc kèm theo) mục đích thẩm nhận chỗ những giá trị vật chất, tinh thần hữu hình hay vô hình của thiên nhiên hoặc cộng đồng xã hội. Về phương diện kinh tế, du khách là những người sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp Du lịch như lữ hành, lưu trú, ăn uống. [28] Khách Du lịch gồm khách Du lịch nội địa và khách Du lịch quốc tế: (Luật Du lịch, chương 4, điều 34) - Khách Du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi Du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Khách Du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Hà Nam cư ở nước ngoài vào Việt Nam Du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài Du lịch.
Điểm đến Du lịch Đây là danh từ được một số dịch giả dịch từ khái niệm gốc của Leiper “tourism destination” Bảng 1.1: Khu phân bố khách Du lịch và ngành Du lịch - Vùng phát sinh khách Du lịch thường là nơi ở thường xuyên của họ, nơi các chuyến Du lịch bắt đầu và kết thúc. - Điểm đến Du lịch là nơi hấp dẫn khách Du lịch lưu lại tạm thời. Ở đây có những điểm độc đáo mà khách không thể tìm thấy ở nơi cư trú thường xuyên của mình. Ngành công nghiệp Du lịch hoạt động ở nơi đến gồm: dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, nghỉ ngơi, chữa bệnh.
- Vùng chuyển tiếp chính là không gian nơi các tour du lịch đi qua với nhiệm vụ liên kết giữa hai nơi. Chúng đóng vai trò then chốt trong hệ thống vì chất lượng, đặc điểm của chúng quyết định lớn đến số lượng và phương hướng của luồng khách. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật Du lịch Cơ sở hạ tầng kỹ thuật Du lịch bao gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật của riêng ngành Du lịch (cơ sở lưu trú, ăn uống, giải trí.) và cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một số ngành kinh tế quốc dân tham gia phục vụ Du lịch (hệ thống giao thông, điện nước, thông tin liên lạc. Những yếu tố này có ý nghĩa rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác các tài nguyên, phục vụ khách Du lịch, đồng thời cũng góp phần quyết định độ dài thời gian lưu trú và mức độ chi tiêu của du khách.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cơ sở hạ tầng kỹ thuật Du lịch phải đảm bảo được ba tiêu chuẩn chính: 1) Có những điều kiện tốt nhất cho sự nghỉ ngơi Du lịch; 2) Đạt hiệu quả kinh tế tối ưu trong quá trình xây dựng và khai thác; 3) Thuận tiện cho việc đi lại của du khách. Nhân lực Du lịch Nguồn nhân lực dồi dào, chất lượng yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến Du lịch. Lao động trong ngành Du lịch bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Nhân lực Du lịch trực tiếp là những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước về Du lịch (cùng các đơn vị trực thuộc), các công ty lữ hành, khách sạn, nhà hàng và các cơ sở dịch vụ khác.
Nhân lực Du lịch gián tiếp là những người tham gia vào các hoạt động có liên quan đến Du lịch (trông giữ đồ, chụp ảnh, bán hàng.tại điểm Du lịch). Nhân lực Du lịch là một dạng nhân lực có nhiều yếu tố đặc thù và có yêu cầu cao về kỹ năng thực hành nghiệp vụ. Họ không chỉ cần kiến thức chuyên môn vững vàng, nghiệp vụ thành thục mà còn cần có trình độ ngoại ngữ cao, phong cách giao tiếp lịch sự, vốn kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hóa địa phương, biết phát huy nét cá tính riêng biệt của bản thân và có hiểu biết sâu sắc về du khách. Nói cách khác, họ chính là sứ giả quảng bá cho hình ảnh điểm đến Du lịch.
Tuy nhiên, ngành Du lịch Việt Nam hiện nay vẫn đang khan hiếm nguồn nhân lực có chất lượng cao. Và đây cũng là hiện tượng của ngành Du lịch tỉnh Nam Định. Doanh thu Du lịch Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), doanh thu Du lịch được tính bằng toàn bộ số tiền mà khách Du lịch phải chi trả khi đi thăm một nước khác (trừ chi phí vận chuyển hàng không quốc tế). Tuy nhiên, ở nước ta nói chung và ở Hà Nam nói riêng, hệ thống thống kê chưa được hoàn chỉnh nên toàn bộ các khoản chi trả của khách Du lịch trong toàn bộ chương trình chưa được tập hợp đầy đủ và chính xác.
Ngược lại, trên thực tế có những doanh nghiệp Du lịch tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu, kinh doanh tổng hợp nhiều mảng nhưng tổng nguồn thu này lại được tính riêng cho ngành Du lịch. Chính vì lẽ đó, số liệu thống kê doanh thu Du lịch chỉ ở mức độ tương đối. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tổ chức, quản lý Du lịch Theo từ điển tiếng Việt, tổ chức là “tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự nhất định”, còn quản lý là “tổ chức, điều khiển, theo dõi việc thực hiện đường lối, chính sách mà chính quyền quy định”.
Như vậy, tổ chức Du lịch là việc thực hiện hoạt động Du lịch theo một cách thức phù hợp, và quản lý Du lịch là việc điều khiển hoạt động Du lịch đi theo đúng quỹ đạo mà nhà nước quy định. Luật Du lịch 2005 quy định về việc quản lý Du lịch tại điểm - khu - tuyến Du lịch như sau: 1. Quản lý điểm Du lịch: (chương 4, điều 29) - Bảo vệ, phát triển tài nguyên Du lịch, bảo đảm vệ sinh môi trường; - Tạo điều kiện thuận lợi cho khách Du lịch đến tham quan; - Bảo đảm sự tham gia của cộng đồng dân cư vào các hoạt động Du lịch; - Giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; bảo đảm an toàn cho du khách. Quản lý khu Du lịch: (chương 4, điều 28) - Quản lý công tác quy hoạch và đầu tư phát triển; - Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ; - Bảo vệ tài nguyên Du lịch; bảo đảm vệ sinh môi trường, trật tự an toàn xã hội; - Thực hiện các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Phải thành lập ban quản lý khu Du lịch và ban quản lý chuyên ngành. Quản lý tuyến Du lịch: (chương 4, điều 30) - Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cảnh quan, môi trường dọc theo tuyến Du lịch. - Tạo thuận lợi cho việc tham gia giao thông của các phương tiện chuyên vận chuyển khách Du lịch. - Quản lý việc đầu tư, xây dựng các cơ sở dịch vụ dọc tuyến Du lịch theo quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, quyết định.
Xúc tiến Du lịch Luật Du lịch 2005 quy định các hình thức và nội dung xúc tiến Du lịch bao gồm: 1. Các hình thức xúc tiến Du lịch là: (chương 7, điều 37) 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tuyên truyền, quảng bá Du lịch trên các phương tiện thông tin đại chúng trong nước và nước ngoài; - Xây dựng các sản phẩm tuyên truyền, quảng bá Du lịch; - Công bố các sản phẩm Du lịch mới; - Khảo sát điểm đến; - Tổ chức và thực hiện các chương trình, sự kiện, hội chợ, hội thảo, triển lãm, hoạt động thông tin Du lịch (ở trong nước và nước ngoài) của quốc gia, khu vực và địa phương; - Hợp tác quốc tế về xúc tiến Du lịch. - Lập văn phòng đại diện Du lịch ở nước ngoài. - Các hình thức xúc tiến Du lịch khác.