Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), ngành du lịch toàn cầu đóng góp khoảng 9% tổng GDP thế giới (tương đương 1.500 tỷ USD vào năm 2014), đồng thời tạo ra việc làm cho tỷ lệ trung bình 1 trên 11 lao động toàn cầu. Tại Việt Nam, du lịch cộng đồng (DLCĐ) được khẳng định là công cụ hữu hiệu nhằm xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa.

Xã Ba Vì thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội là một xã miền núi khu vực 3 đặc biệt khó khăn, nằm trải dài dưới chân núi Ba Vì. Toàn xã có 556 hộ gia đình với 2.227 nhân khẩu, trong đó đồng bào dân tộc Dao quần chẹt chiếm tỷ lệ áp đảo 94,5% dân số, phân bố chủ yếu tại ba thôn: Yên Sơn, Hợp Sơn và Hợp Nhất. Mặc dù sở hữu kho tàng văn hóa dân tộc độc đáo cùng cảnh quan sinh thái phong phú, hoạt động du lịch tại xã Ba Vì trong giai đoạn 2010 - 2015 vẫn ở tình trạng manh mún, tự phát và thiếu vắng sự tham gia chủ động của người dân bản địa.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Thảo Xuân tập trung giải quyết bài toán: Đánh giá thực trạng các điều kiện tự nhiên, nhân văn và khả năng tham gia của cộng đồng địa phương, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp xây dựng mô hình phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại xã Ba Vì. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tạo lập sinh kế phi nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho hơn 90% hộ dân đang phụ thuộc vào đất canh tác hạn hẹp, đồng thời bảo tồn bản sắc văn hóa người Dao và gìn giữ môi trường sinh thái vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển du lịch dựa vào cộng đồng (Community-Based Tourism - CBT) theo định nghĩa của Chương trình Du lịch Xã hội - Sinh thái có trách nhiệm (REST 1997) và sáng kiến Du lịch bền vững gắn với xóa đói giảm nghèo (STEP) do UNWTO khởi xướng tại Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg năm 2002. Bản chất của du lịch cộng đồng được xác định là một quá trình tổ chức bền vững về kinh tế, văn hóa và môi trường, do chính người dân địa phương quản lý và làm chủ nhằm chia sẻ lợi ích công bằng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các khái niệm cốt lõi bao gồm: Cộng đồng địa phương (CĐĐP), Tài nguyên du lịch theo Điều 7 Luật Du lịch năm 2005 và Khung năng lực cộng đồng. Nghiên cứu quán triệt 4 nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng: hoạt động dựa vào cộng đồng, phân chia lợi ích kinh tế hợp lý, trao quyền quyết định cho người dân bản địa và bảo tồn bền vững giá trị tài nguyên tự nhiên lẫn văn hóa. Luận văn cũng tham chiếu và tổng hợp bài học thực tiễn từ các mô hình thành công trên thế giới như làng Ghandruk (Nepal), chương trình OTOP tại Chiang Mai (Thái Lan) và các mô hình trong nước như Bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình), Vườn quốc gia Ba Bể và làng Đồi (Nam Đông, Thừa Thiên Huế).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực chứng:

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ niên giám thống kê của Ủy ban nhân dân xã Ba Vì, tư liệu lưu trữ của Phòng Văn hóa Thông tin huyện Ba Vì, các công trình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch và Tổng cục Du lịch giai đoạn 2010 - 2015.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thực hiện thông qua hai phương pháp chủ đạo:

  • Phương pháp khảo sát thực địa (điền dã): Triển khai qua 2 đợt gồm đợt 1 vào tháng 12 năm 2015 nhằm khảo sát tổng quan vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì; đợt 2 vào tháng 4 năm 2016 khảo sát chuyên sâu điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tại ba thôn Yên Sơn, Hợp Sơn và Hợp Nhất.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi với cỡ mẫu 350 phiếu điều tra, đối tượng bao gồm cư dân địa phương và cán bộ quản lý xã Ba Vì. Mẫu được lựa chọn theo phương pháp phân tầng địa bàn dân cư để đảm bảo tính đại diện.

Về phương pháp phân tích, luận văn tiên phong ứng dụng kỹ thuật KSAP (Knowledge - Kiến thức, Skill - Kỹ năng, Attitude - Thái độ, Practice - Thực hành) kết hợp phần mềm SPSS 16. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác 4 chiều kích năng lực của người dân, từ đó phát hiện đúng các điểm nghẽn về nhận thức và kỹ năng nghề du lịch của đồng bào dân tộc thiểu số.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra các đặc điểm và dữ liệu định lượng quan trọng về thực trạng xã Ba Vì:

Thứ nhất, tiềm năng tài nguyên tự nhiên và áp lực đất đai: Tổng diện tích tự nhiên của xã Ba Vì là 2.538,01 ha (thuộc nhóm lớn nhất Hà Nội), nhưng diện tích được sử dụng thực tế chỉ khoảng 340 ha (chiếm xấp xỉ 13,4%), phần còn lại thuộc quyền quản lý của Vườn quốc gia Ba Vì. Đáng chú ý, diện tích đất canh tác lúa nước toàn xã chỉ có chưa đầy 20 ha (thôn Yên Sơn 9,5 ha; thôn Hợp Nhất 8,5 ha; thôn Hợp Sơn hoàn toàn 0 ha). Địa hình xã có độ dốc từ 25 đến 40 độ, phân bố ở độ cao từ 100m đến 400m, nền nhiệt độ trung bình năm 23,4 độ C và lượng mưa hàng năm 1.832,2 mm, mang lại khí hậu mát mẻ quanh năm rất thuận lợi cho nghỉ dưỡng.

Thứ hai, kho tàng tài nguyên nhân văn phong phú: Với 94,5% dân số là người Dao quần chẹt (khoảng gần 2.100 nhân khẩu), xã Ba Vì lưu giữ nhiều giá trị văn hóa độc đáo như các làn điệu dân ca Páo dung ghi bằng chữ Nôm Dao, hình thái tín ngưỡng vạn vật hữu linh, lễ Cấp sắc công nhận sự trưởng thành của nam giới và nghi lễ Tết Nhảy truyền thống. Để thực hiện Tết Nhảy cúng thủy tổ Bàn Vương, mỗi dòng họ phải đầu tư lập hai bộ tranh thần linh thiêng gồm bộ Hành Khay (khoảng 3 triệu đồng) và bộ Phàm sinh 18 bức (khoảng 7 triệu đồng). Cùng với đó, nghề bốc thuốc Nam truyền thống là nét đặc trưng sinh kế nổi bật.

Thứ ba, kết quả phân tích năng lực cộng đồng theo khung KSAP:

  • Thái độ (Attitude): Hơn 80% người dân được khảo sát bày tỏ thái độ tích cực, sẵn sàng tham gia hoạt động du lịch nếu được chính quyền định hướng.
  • Kiến thức (Knowledge): Dưới 20% người dân có hiểu biết đầy đủ về khái niệm và cách thức vận hành du lịch cộng đồng.
  • Kỹ năng (Skill): Tỷ lệ người dân có kỹ năng tiếp đón khách, phục vụ ăn uống và giao tiếp cơ bản chỉ đạt dưới 15%.
  • Thực hành (Practice): Hoạt động kinh doanh du lịch thực tế tại ba thôn gần như bằng 0, người dân chủ yếu sản xuất nông lâm nghiệp tự phát.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên phản ánh mâu thuẫn sâu sắc giữa tiềm năng tài nguyên văn hóa - tự nhiên phong phú với năng lực thực hành du lịch còn non trẻ của người Dao Ba Vì. Việc thiếu đất canh tác (chưa đầy 20 ha đất lúa cho 556 hộ dân) đặt ra nhu cầu cấp bách phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang dịch vụ du lịch.

Dữ liệu khảo sát có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu dân số (94,5% người Dao so với 5,5% người Mường và Kinh), biểu đồ cột so sánh các chỉ số KSAP (thái độ ủng hộ vượt trội nhưng kỹ năng và kiến thức ở mức đáy), cùng bảng thống kê diện tích đất canh tác phân bổ tại 3 thôn (Yên Sơn 9,5 ha, Hợp Nhất 8,5 ha, Hợp Sơn 0 ha).

So sánh với mô hình Bản Lác tại Hòa Bình (nơi các hộ làm homestay đạt thu nhập bình quân 3 - 5 triệu đồng/tháng, hộ cao nhất đạt khoảng 200 triệu đồng/năm) và mô hình làng Đồi tại Thừa Thiên Huế (nơi hơn 50% hộ dân có nguồn thu từ đón khách và bán thổ cẩm, mật ong), xã Ba Vì hoàn toàn có đủ điều kiện văn hóa tương đồng. Nguyên nhân chính khiến du lịch Ba Vì chưa phát triển là sự thiếu hụt mạng lưới liên kết với các công ty lữ hành, hạ tầng lưu trú chưa hình thành và thiếu cơ chế điều phối thống nhất giữa cộng đồng, chính quyền địa phương và Ban quản lý Vườn quốc gia Ba Vì.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược mang tính hành động cao:

Thứ nhất, xây dựng cơ chế chính sách và phân chia lợi ích hợp lý: Thành lập Ban Quản lý Du lịch cộng đồng xã Ba Vì với sự tham gia trực tiếp của đại diện chính quyền, các già làng, trưởng bản và hợp tác xã thuốc Nam. Ban hành quy chế trích 10% đến 15% nguồn thu du lịch vào quỹ phúc lợi chung nhằm tái đầu tư vào hệ thống giao thông, nước sạch và vệ sinh môi trường. Mục tiêu: 100% hộ dân tham gia được chia sẻ lợi nhuận minh bạch. Thời gian triển khai: Giai đoạn 2016 - 2018. Chủ thể thực hiện: UBND xã Ba Vì phối hợp với Phòng Văn hóa Thông tin huyện Ba Vì.

Thứ hai, nâng cao năng lực nguồn nhân lực theo chuẩn KSAP: Tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ buồng phòng, kỹ thuật chế biến ẩm thực truyền thống, kỹ năng hướng dẫn viên bản địa và giao tiếp cơ bản cho 150 đến 200 lao động tại các thôn Yên Sơn, Hợp Nhất và Hợp Sơn. Mục tiêu: Nâng tỷ lệ lao động có kỹ năng thực hành du lịch đạt trên 50%. Thời gian triển khai: Định kỳ hàng năm từ 2017. Chủ thể thực hiện: Sở Du lịch Hà Nội, các trường đại học đào tạo du lịch phối hợp với các tổ chức phát triển.

Thứ ba, phát triển chuỗi sản phẩm du lịch đặc trưng bản địa: Khai thác thế mạnh văn hóa người Dao bằng việc xây dựng tour trải nghiệm hái thuốc Nam, ngâm tắm thuốc lá chữa bệnh, thưởng thức ẩm thực cổ truyền, nghe hát Páo dung và xem trích đoạn lễ Cấp sắc, Tết Nhảy. Xây dựng cụm homestay kiểu mẫu tại thôn Yên Sơn và Hợp Nhất. Mục tiêu: Thu hút khoảng 15.000 lượt khách trải nghiệm mỗi năm. Thời gian triển khai: 2017 - 2020. Chủ thể thực hiện: Các hộ kinh doanh gia đình kết hợp cùng Hợp tác xã thuốc Nam và doanh nghiệp lữ hành.

Thứ tư, đầu tư hạ tầng giao thông và xúc tiến quảng bá đa kênh: Nhựa hóa và mở rộng các tuyến đường liên thôn nối từ trục chính Vườn quốc gia Ba Vì vào các bản làng; lắp đặt hệ thống biển chỉ dẫn du lịch song ngữ; kết nối mạng lưới với hơn 20 công ty lữ hành uy tín tại Hà Nội để đưa khách về nguồn. Mục tiêu: Đạt mức tăng trưởng lượt khách 20% mỗi năm. Thời gian triển khai: 2017 - 2019. Chủ thể thực hiện: UBND huyện Ba Vì và Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại, Du lịch Hà Nội.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm thứ nhất: Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương (UBND huyện Ba Vì, UBND xã Ba Vì, Sở Du lịch Hà Nội). Luận văn cung cấp khung luận cứ khoa học và số liệu thực chứng để hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo, quy hoạch vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì và xây dựng nông thôn mới gắn với du lịch bền vững.

Nhóm thứ hai: Các doanh nghiệp du lịch, lữ hành và nhà đầu tư sinh thái. Cung cấp dữ liệu chi tiết về tài nguyên văn hóa người Dao, địa hình sinh thái và các tuyến điểm tiềm năng nhằm xây dựng sản phẩm tour du lịch văn hóa - chữa bệnh độc đáo phục vụ thị trường thủ đô.

Nhóm thứ ba: Giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên chuyên ngành Du lịch, Văn hóa học, Nhân học và Phát triển nông thôn. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận áp dụng mô hình KSAP trong nghiên cứu năng lực cộng đồng dân tộc thiểu số và kinh nghiệm so sánh các mô hình du lịch trong và ngoài nước.

Nhóm thứ tư: Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và tổ chức hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững. Làm tài liệu cơ sở để thiết kế các dự án viện trợ kỹ thuật, đào tạo nghề và trao quyền kinh tế cho phụ nữ đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

Tài nguyên văn hóa nổi bật nhất của xã Ba Vì để phát triển du lịch cộng đồng là gì? Xã Ba Vì sở hữu bản sắc văn hóa độc đáo của người Dao quần chẹt chiếm 94,5% dân số. Nổi bật nhất là tri thức bản địa về nghề làm thuốc Nam gia truyền, làn điệu dân ca Páo dung, nghi lễ Cấp sắc mang tính giáo dục sâu sắc và ngày hội Tết Nhảy với các bộ tranh thần cổ truyền.

Tại sao tác giả lại áp dụng phương pháp KSAP trong nghiên cứu này? Phương pháp KSAP giúp đo lường đồng bộ 4 chỉ số: Kiến thức, Kỹ năng, Thái độ và Thực hành của người dân thông qua 350 phiếu điều tra xã hội học. Đây là công cụ hữu hiệu giúp phát hiện chính xác điểm nghẽn năng lực để xây dựng chương trình đào tạo nghề du lịch sát thực tế.

Mô hình du lịch cộng đồng xã Ba Vì có thể rút ra bài học gì từ Bản Lác và làng Đồi? Nghiên cứu đúc kết bài học về việc quản lý tập trung và phân chia lợi ích kinh tế công bằng cho mọi hộ dân như tại Bản Lác (thu nhập bình quân 3 - 5 triệu đồng/tháng), đồng thời chú trọng đào tạo năng lực tự chủ cho người dân từ sớm theo dự án của tổ chức SNV tại làng Đồi.

Khó khăn lớn nhất trong việc phát triển du lịch tại xã Ba Vì hiện nay là gì? Khó khăn lớn nhất nằm ở quỹ đất nông nghiệp hạn chế (chưa đầy 20 ha đất lúa cho 556 hộ dân), hạ tầng giao thông và dịch vụ lưu trú homestay chưa đạt chuẩn, cùng với tỷ lệ người dân có kỹ năng nghề du lịch còn rất thấp (dưới 15%).

Du lịch cộng đồng đóng góp như thế nào vào công tác bảo tồn Vườn quốc gia Ba Vì? Khi du lịch cộng đồng phát triển, người dân có nguồn thu nhập ổn định từ dịch vụ homestay, hướng dẫn viên và bán thảo dược, từ đó giảm thiểu hoàn toàn hoạt động chặt phá rừng và săn bắt trái phép, góp phần bảo vệ bền vững hệ sinh thái tự nhiên rộng lớn của Vườn quốc gia.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Thảo Xuân đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu và tạo ra những đóng góp thiết thực cho ngành du lịch:

  • Hệ thống hóa khung lý luận về du lịch cộng đồng và tiên phong ứng dụng thành công phương pháp KSAP trong đánh giá năng lực cộng đồng dân tộc thiểu số.
  • Phân tích toàn diện hiện trạng tự nhiên và nguồn lực nhân văn của cộng đồng người Dao chiếm 94,5% dân số tại ba thôn Yên Sơn, Hợp Sơn và Hợp Nhất.
  • Chỉ rõ các rào cản cốt lõi về kỹ năng dịch vụ, nhận thức kinh doanh và sự thiếu hụt hạ tầng phục vụ du lịch tại địa phương.
  • Đề xuất mô hình tổ chức không gian chức năng và 4 nhóm giải pháp khả thi về cơ chế chính sách, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển sản phẩm thuốc Nam và xúc tiến lữ hành.
  • Xác định lộ trình triển khai cụ thể giai đoạn 2016 - 2020 nhằm hiện thực hóa mục tiêu xóa đói giảm nghèo và bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người.

Nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị cao cho các nhà quản lý, doanh nghiệp và học viên quan tâm đến lĩnh vực phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại Việt Nam.