Luận án: Hợp tác các bên liên quan phát triển du lịch nông thôn bền vững tại Lâm Đồng

Hợp tác các bên là chìa khóa để phát triển du lịch nông thôn bền vững. Tìm hiểu vai trò, giải pháp và các mô hình hiệu quả trong thực tiễn.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

200
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Sự cần thiết nghiên cứu

1.2. Về thực tiễn

1.3. Mục tiêu nghiên cứu

1.3.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

1.3.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

1.4. Câu hỏi nghiên cứu

1.5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa nghiên cứu của luận án

1.6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận

1.6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn

1.7. Kết cấu của luận án

2. CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Tổng quan nghiên cứu

2.1.1. Các nghiên cứu về du lịch nông thôn

2.1.2. Các nghiên cứu về phát triển du lịch nông thôn bền vững

2.1.3. Các nghiên cứu về hợp tác giữa các bên liên quan

2.1.4. Hợp tác giữa các bên liên quan và phát triển du lịch nông thôn bền vững

2.2. Cơ sở lý thuyết về du lịch nông thôn

2.2.1. Khái niệm du lịch nông thôn

2.2.2. Đặc điểm du lịch nông thôn

2.2.3. Các loại hình du lịch nông thôn

2.3. Cơ sở lý thuyết về hợp tác giữa các bên liên quan

2.3.1. Khái niệm hợp tác

2.3.2. Vai trò của hợp tác giữa các bên liên quan

2.3.3. Nghiên cứu lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory)

2.3.4. Đề xuất khung nghiên cứu lý thuyết

3. CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thiết kế nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study)

3.3. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

3.4. Xác định các bên tham gia trong hợp tác và quy mô mẫu

3.5. Thu thập dữ liệu

3.6. Phân tích dữ liệu

3.7. Tính hợp lý và độ tin cậy của dữ liệu nghiên cứu

4. CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Bối cảnh nghiên cứu

4.1.1. Bối cảnh nghiên cứu tại huyện Lạc Dương

4.1.2. Bối cảnh nghiên cứu tại huyện Lâm Hà

4.2. Các hình thức hợp tác và vai trò của hợp tác giữa các bên liên quan trong PTDLNT

4.2.1. Các hình thức hợp tác các bên liên quan

4.2.2. Vai trò của quan hệ hợp tác giữa các bên liên quan trong phát triển du lịch nông thôn

4.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hợp tác giữa các bên liên quan trong phát triển du lịch nông thôn theo hƣớng bền vững tại huyện Lâm Hà

4.3.1. Các nhân tố thúc đẩy hợp tác giữa các bên liên quan

4.3.2. Các nhân tố cản trở hợp tác giữa các bên liên quan

4.3.3. Hợp tác các bên liên quan cho phát triển du lịch nông thôn theo hướng bền vững

4.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hợp tác giữa các bên liên quan trong phát triển du lịch nông thôn theo hƣớng bền vững tại huyện Lạc Dƣơng

4.4.1. Các nhân tố thúc đẩy hợp tác các bên liên quan

4.4.2. Các nhân tố cản trở hợp tác các bên liên quan

4.4.3. Hợp tác các bên liên quan trong phát triển du lịch nông thôn theo hướng bền vững tại huyện Lạc Dương

4.5. So sánh và tổng hợp kết quả nghiên cứu

4.5.1. Các bên liên quan tham gia trong hợp tác phát triển du lịch nông thôn

4.5.2. Các hình thức hợp tác và vai trò hợp tác giữa các bên liên quan trong phát triển du lịch nông thôn

4.5.3. Các nhân tố thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các bên liên quan trong phát triển du lịch nông thôn theo hướng bền vững

4.5.4. Các nhân tố cản trở hợp tác giữa các bên liên quan theo hướng bền vững

4.5.5. Những yếu tố để hợp tác thành công cho phát triển du lịch nông thôn theo hướng bền vững

5. CHƢƠNG 5: THẢO LUẬN VÀ CÁC HÀM Ý NGHIÊN CỨU

5.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5.1.1. Các bên liên quan du lịch phù hợp tham gia hợp tác trong PTDLNT theo hướng bền vững

5.1.2. Đa dạng các hình thức và xây dựng lộ trình hợp tác giữa các bên liên quan trong phát triển du lịch nông thôn theo hướng bền vững

5.1.3. Hợp tác thành công giữa các bên liên quan trong phát triển du lịch nông thôn theo hướng bền vững

5.1.4. Phát triển du lịch nông thôn theo hướng bền vững

5.1.5. Đề xuất khung nghiên cứu về quan hệ hợp tác giữa các bên liên quan trong phát triển du lịch nông thôn theo hướng bền vững

5.1.6. Khuyến nghị cho tổng thể

5.2. Các hàm ý nghiên cứu

5.2.1. Nâng cao nhận thức các bên liên quan về hợp tác và phát triển du lịch nông thôn theo hướng bền vững

5.2.2. Trao quyền và xây dựng năng lực hợp tác, đặc biệt đối với cộng đồng địa phương

5.2.3. Củng cố niềm tin giữa các bên liên quan

5.2.4. Tăng cường cam kết trong hợp tác giữa các bên liên quan

5.2.5. Dung hòa hợp tác và cạnh tranh giữa các bên liên quan

5.2.6. Những hạn chế và gợi ý nghiên cứu tiếp theo

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Dàn bài phỏng vấn

Phụ lục 2: Danh sách ngƣời tham gia phỏng vấn

Tóm tắt

I. Khám phá Tầm quan trọng của Phát triển Du lịch Nông thôn Bền vững

Du lịch nông thôn (DLNT) đang nổi lên như một xu hướng toàn cầu, mang lại cơ hội phát triển kinh tế nông nghiệp và cải thiện sinh kế bền vững cho hàng triệu người. Khác biệt với du lịch đô thị, DLNT diễn ra trong không gian mở, gắn liền với văn hóa bản địa, cảnh quan thiên nhiên và đời sống cộng đồng. Sự ra đời của khái niệm phát triển bền vững vào những năm 1970 đã định hình lại mục tiêu của ngành du lịch, đặc biệt là DLNT. Nó nhấn mạnh sự cân bằng giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường, đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai (WTO, 2004). Mục tiêu của phát triển du lịch nông thôn bền vững không chỉ dừng lại ở việc gia tăng thu nhập mà còn ở bảo tồn di sản, nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng địa phương du lịch và bảo vệ môi trường tự nhiên. Sự phức tạp của DLNT, với nhiều bên liên quan và điều kiện hạn chế về cơ sở hạ tầng hay nhân lực, đòi hỏi một phương pháp tiếp cận toàn diện hơn. Hợp tác các bên trở thành nhân tố cơ bản, giúp tổng hợp nguồn lực, chia sẻ kiến thức và giảm thiểu xung đột (Jamal và Getz, 1995). Bởi vậy, việc hiểu rõ bản chất và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác là chìa khóa để khai thác tối đa tiềm năng của DLNT, biến nó thành động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của nông thôn mới và nền kinh tế nông nghiệp ở các quốc gia đang phát triển. Sự tham gia chủ động từ chính quyền địa phương, doanh nghiệp du lịch nông thôn và người dân là điều kiện tiên quyết. Đây là yếu tố quyết định sự thành công lâu dài của mọi sáng kiến DLNT. Luận án của Nguyễn Thị Thanh Ngân (2021) nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ hợp tác này trong bối cảnh Lâm Đồng, một minh chứng cụ thể cho thấy sự cần thiết của việc xây dựng một nền tảng lý thuyết vững chắc cho hợp tác các bên trong phát triển du lịch nông thôn bền vững.

1.1. Định nghĩa và Giá trị cốt lõi của Du lịch nông thôn bền vững

Du lịch nông thôn (DLNT) được định nghĩa rộng rãi là hoạt động du lịch diễn ra ở vùng nông thôn, khai thác các giá trị đặc thù về tự nhiên, văn hóa và đời sống của cư dân địa phương (OECD, 1994; Lane, 1994). Nó bao gồm đa dạng các loại hình như du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, du lịch làng nghề, và du lịch văn hóa (Viện Nghiên cứu và Phát triển du lịch, 2014). Giá trị cốt lõi của DLNT bền vững nằm ở việc đảm bảo hài hòa lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường. Về kinh tế, DLNT tạo ra nguồn thu nhập bổ sung, góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp, tạo việc làm cho cộng đồng địa phương du lịch và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm OCOP (OECD, 1994). Về xã hội và văn hóa, nó giúp bảo tồn di sản, phát huy văn hóa bản địa, giảm thiểu di cư nông thôn và nâng cao nhận thức về giá trị truyền thống. Về môi trường, phát triển du lịch nông thôn bền vững chú trọng quản lý tài nguyên du lịch hiệu quả, bảo vệ cảnh quan và đa dạng sinh học, giảm thiểu tác động môi trường du lịch tiêu cực. Luận án của Nguyễn Thị Thanh Ngân (2021) khẳng định, DLNT bền vững không chỉ là mục tiêu mà còn là phương pháp để đạt được lợi ích cân bằng cho các bên tham gia và cho điểm đến, đặc biệt trong bối cảnh nông thôn mới tại Việt Nam.

1.2. Hợp tác Các Bên Nền tảng không thể thiếu cho Du lịch Nông thôn

Mô hình phát triển du lịch nông thôn bền vững đòi hỏi sự tham gia và hợp tác các bên liên quan một cách chặt chẽ. Theo Jamal và Getz (1995), hợp tác là quá trình ra quyết định chung giữa các bên để giải quyết vấn đề quy hoạch và quản lý du lịch. Vai trò của hợp tác được nhấn mạnh bởi việc tổng hợp các nguồn lực khan hiếm (Roberts và Bradley, 1991), chia sẻ kiến thức chuyên môn, và tăng cường niềm tin giữa các đối tác (Jiang và Ritchie, 2017). Trong DLNT, nơi các điều kiện về cơ sở hạ tầng, nhân lực còn hạn chế, sự hợp tác trở nên càng quan trọng. Nó giúp giảm thiểu xung đột lợi ích giữa các bên, đặc biệt là giữa chính quyền địa phương, doanh nghiệp du lịch nông thôncộng đồng địa phương du lịch (Yuksel và cộng sự, 1999). Việc xây dựng các liên kết chuỗi giá trị du lịch vững chắc không chỉ tối ưu hóa lợi ích mà còn nâng cao năng lực cho các chủ thể tham gia. Mức độ tham gia và hiểu biết của các bên khác nhau đòi hỏi một cơ chế hợp tác linh hoạt, từ hợp tác công tư (PPP) du lịch đến các liên kết phi chính thức giữa người dân và doanh nghiệp nhỏ. Luận án của Nguyễn Thị Thanh Ngân (2021) chỉ ra rằng, hợp tác là nhân tố cơ bản cho sự bền vững của điểm đến, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển, nơi nó giúp phân phối lợi ích công bằng hơn và nâng cao khả năng ra quyết định tập thể.

II. Thách thức Nào Cản Trở Phát Triển Du lịch Nông thôn Bền vững

Quá trình phát triển du lịch nông thôn bền vững đối mặt với nhiều thách thức phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam. Sự đa dạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và trình độ dân trí tại các vùng nông thôn tạo ra những rào cản đáng kể. Một trong những vấn đề cốt lõi là sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch du lịchquản lý tài nguyên du lịch. Nhiều điểm đến DLNT phát triển tự phát, thiếu định hướng chiến lược từ chính quyền địa phương, dẫn đến khai thác chưa hiệu quả hoặc gây tác động môi trường du lịch tiêu cực (Ghaderi và Henderson, 2012; Haven-Tang và Jones, 2012). Hơn nữa, năng lực của cộng đồng địa phương du lịch còn hạn chế về kiến thức, kỹ năng marketing du lịch nông thôn và quản lý dịch vụ, làm giảm khả năng tham gia và hưởng lợi công bằng từ các hoạt động du lịch (Ma và cộng sự, 2020). Luận án của Nguyễn Thị Thanh Ngân (2021) chỉ ra các nhân tố cản trở hợp tác tại Lâm Đồng, bao gồm công tác quản trị du lịch chưa đầy đủ, hạn chế nhận thức của các bên liên quan về hợp tác, thiếu niềm tin và hiểu biết lẫn nhau, cũng như mất cân bằng về lợi ích và xung đột quyền lực. Các doanh nghiệp du lịch nông thôn nhỏ thường gặp khó khăn về vốn đầu tư, kỹ năng tiếp thị và tính thời vụ của hoạt động du lịch (Sharpley, 2007). Sự thiếu hụt cơ sở hạ tầng đồng bộ, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, cũng là một rào cản lớn, hạn chế khả năng tiếp cận và phát triển sản phẩm DLNT đa dạng. Những thách thức này đòi hỏi một cách tiếp cận đa chiều, không chỉ tập trung vào việc giải quyết từng vấn đề riêng lẻ mà còn phải xây dựng một hệ sinh thái hợp tác mạnh mẽ và bền vững giữa tất cả các bên liên quan để đảm bảo sinh kế bền vững và sự thịnh vượng lâu dài cho các vùng nông thôn mới.

2.1. Hạn chế Năng lực và Sự thiếu Đồng thuận của Cộng đồng địa phương du lịch

Sự tham gia của cộng đồng địa phương du lịch là yếu tố then chốt nhưng thường gặp nhiều rào cản. Luận án của Nguyễn Thị Thanh Ngân (2021) đã chỉ ra rằng, nhận thức và hiểu biết của người dân về phát triển du lịch nông thôn bền vững và vai trò của họ trong hợp tác còn hạn chế. Điều này đặc biệt đúng ở các vùng dân tộc thiểu số, nơi có sự khác biệt về tư duy và chuẩn mực giá trị, làm phức tạp quá trình hợp tác. Thiếu đào tạo nguồn nhân lực du lịch phù hợp về kỹ năng đón tiếp khách, quản lý homestay, hay quảng bá văn hóa bản địa khiến người dân khó tự mình khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch (Ghaderi và Henderson, 2012). Thêm vào đó, sự mất cân bằng quyền lực, nơi ý kiến của người dân ít được lắng nghe trong quá trình lập chính sách, dẫn đến việc họ không được hưởng lợi công bằng từ du lịch, thậm chí phải chịu những hậu quả tiêu cực (Ma và cộng sự, 2020). Điều này làm suy yếu niềm tin và sự cam kết của cộng đồng vào các dự án DLNT, cản trở việc xây dựng sinh kế bền vững. Để vượt qua, cần có cơ chế trao quyền rõ ràng, thúc đẩy đối thoại và đảm bảo tiếng nói bình đẳng cho mọi thành viên cộng đồng trong các quyết định liên quan đến quản lý tài nguyên du lịch và phát triển điểm đến.

2.2. Vấn đề Quy hoạch Du lịch và Quản lý Tài nguyên chưa đồng bộ

Việc thiếu một chiến lược quy hoạch du lịch đồng bộ và dài hạn là một trong những thách thức lớn đối với phát triển du lịch nông thôn bền vững. Nhiều dự án DLNT ở Việt Nam vẫn mang tính tự phát, thiếu sự gắn kết giữa các sản phẩm và dịch vụ, không tạo được hình ảnh điểm đến tổng thể (Dolli và Pinfold, 1997). Chính quyền địa phương đôi khi thiếu tầm nhìn, chính sách chưa minh bạch hoặc không đủ nguồn lực để triển khai quy hoạch du lịch hiệu quả (Ghaderi và Henderson, 2012). Hậu quả là việc quản lý tài nguyên du lịch kém hiệu quả, gây suy thoái môi trường, thương mại hóa quá mức văn hóa bản địa và mất đi tính nguyên bản của điểm đến. Ví dụ, khai thác thiếu kiểm soát có thể dẫn đến tác động môi trường du lịch tiêu cực, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và cảnh quan vốn là tài sản quý giá của DLNT. Sự thiếu liên kết chuỗi giá trị du lịch giữa các nhà cung cấp dịch vụ nhỏ lẻ cũng làm giảm hiệu quả kinh tế. Cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các ban ngành, các cấp chính quyền địa phương để xây dựng các kế hoạch quy hoạch du lịch tích hợp, đảm bảo các nguyên tắc phát triển bền vững được lồng ghép ngay từ đầu, từ đó bảo vệ và phát huy tối đa các giá trị tự nhiên và văn hóa.

III. Giải pháp Tối ưu Hóa Hợp tác Các Bên trong Du lịch Nông thôn

Hợp tác các bên đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển du lịch nông thôn bền vững. Để tối ưu hóa quá trình này, cần xây dựng các cơ chế hợp tác linh hoạt và hiệu quả, đảm bảo sự tham gia bình đẳng và lợi ích chung cho tất cả các đối tác. Một trong những giải pháp hàng đầu là thúc đẩy các mô hình hợp tác công tư (PPP) du lịch, nơi chính quyền địa phương, doanh nghiệp du lịch nông thôncộng đồng địa phương du lịch cùng chia sẻ trách nhiệm và lợi nhuận. Mô hình này giúp tổng hợp nguồn lực, chuyên môn và kinh nghiệm, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ DLNT chất lượng cao (Franco và Estevão, 2010). Đồng thời, việc củng cố liên kết chuỗi giá trị du lịch từ sản xuất nông sản, chế biến sản phẩm OCOP đến dịch vụ lưu trú homestay nông thôn và trải nghiệm văn hóa sẽ gia tăng giá trị cho toàn bộ hệ thống. Luận án của Nguyễn Thị Thanh Ngân (2021) nhấn mạnh rằng, hợp tác không chỉ là một quá trình mà còn là một chiến lược, yêu cầu sự cam kết mạnh mẽ từ các bên để đạt được mục tiêu chung. Việc tăng cường đào tạo nguồn nhân lực du lịch cho cộng đồng địa phương du lịch về kỹ năng quản lý, tiếp thị và phục vụ khách là rất cần thiết. Song song đó, marketing du lịch nông thôn cần được đẩy mạnh bằng cách kể những câu chuyện độc đáo về văn hóa bản địa, cảnh quan thiên nhiên và con người, thu hút du khách tìm kiếm những trải nghiệm chân thực. Các tổ chức như Tổ chức phi chính phủ (NGOs) du lịch cũng có thể đóng góp vào việc tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng năng lực cho cộng đồng. Bằng cách tập trung vào các giải pháp này, DLNT có thể vượt qua những thách thức hiện có, tạo ra sinh kế bền vững và đóng góp tích cực vào sự phát triển của nông thôn mới theo hướng phát triển bền vững.

3.1. Phương pháp Xây dựng Mô hình Hợp tác Công Tư PPP Du lịch Hiệu quả

Mô hình Hợp tác công tư (PPP) du lịch mang lại tiềm năng lớn cho phát triển du lịch nông thôn bền vững. Theo Franco và Estevão (2010), PPP giúp huy động nguồn lực tài chính, kỹ thuật và quản lý từ khu vực tư nhân, kết hợp với vai trò định hướng và hỗ trợ chính sách của chính quyền địa phương. Để xây dựng PPP hiệu quả, cần xác định rõ vai trò và trách nhiệm của từng bên: chính quyền tạo khung pháp lý, chính sách ưu đãi; doanh nghiệp du lịch nông thôn đầu tư cơ sở vật chất, phát triển sản phẩm và marketing du lịch nông thôn; cộng đồng địa phương du lịch cung cấp tài nguyên, tham gia cung cấp dịch vụ và bảo tồn giá trị văn hóa. Một ví dụ thành công là dự án xây dựng các khu nghỉ dưỡng sinh thái kết hợp homestay, nơi doanh nghiệp đầu tư ban đầu, còn người dân cung cấp dịch vụ và hưởng lợi trực tiếp. Sự minh bạch trong phân chia lợi ích, cơ chế giải quyết xung đột rõ ràng và sự tin tưởng lẫn nhau là những yếu tố then chốt (Roberts và Simpson, 2000). PPP không chỉ giúp phát triển cơ sở hạ tầng mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo ra các sản phẩm OCOP giá trị và đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân. Các sáng kiến này cần được lồng ghép vào chiến lược quy hoạch du lịch tổng thể để đảm bảo tính bền vững lâu dài, giảm thiểu tác động môi trường du lịch và bảo tồn đa dạng sinh học.

3.2. Bí quyết Liên kết Chuỗi Giá trị Du lịch tạo Sinh kế Bền vững

Liên kết chuỗi giá trị du lịch là bí quyết quan trọng để tối ưu hóa lợi ích từ phát triển du lịch nông thôn bền vững. Chuỗi giá trị trong DLNT bao gồm nhiều khâu, từ sản xuất nông sản, thủ công mỹ nghệ, dịch vụ lưu trú homestay nông thôn, đến các hoạt động trải nghiệm du lịch cộng đồngdu lịch sinh thái. Việc liên kết chặt chẽ các mắt xích này giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường khả năng cạnh tranh và tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho cộng đồng địa phương du lịch. Các doanh nghiệp du lịch nông thôn có thể đóng vai trò kết nối, bao tiêu sản phẩm địa phương (sản phẩm OCOP), cung cấp đào tạo nguồn nhân lực du lịch và hỗ trợ marketing du lịch nông thôn. Ví dụ, một công ty lữ hành có thể hợp tác với nông dân để tổ chức tour trải nghiệm nông nghiệp, bao gồm các bữa ăn từ nông sản địa phương và nghỉ tại homestay do người dân quản lý. Sự minh bạch và công bằng trong chia sẻ lợi ích là yếu tố thiết yếu để duy trì liên kết này (Kayat, 2014). Bên cạnh đó, việc xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng cho sản phẩm và dịch vụ, gắn liền với việc bảo tồn di sảnvăn hóa bản địa, sẽ tạo nên thương hiệu riêng cho DLNT. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một hệ sinh thái du lịch nơi mọi bên cùng hưởng lợi, góp phần vào sinh kế bền vững và sự phát triển toàn diện của kinh tế nông nghiệp địa phương.

IV. Nâng Cao Vai Trò Các Bên Chìa Khóa Phát Triển Du Lịch Nông Thôn

Để phát triển du lịch nông thôn bền vững thực sự hiệu quả, việc nâng cao năng lực và vai trò các bên liên quan là yếu tố then chốt. Mỗi chủ thể, từ chính quyền địa phương, doanh nghiệp du lịch nông thôn đến cộng đồng địa phương du lịch và các tổ chức khác, đều có đóng góp riêng biệt nhưng không thể tách rời. Chính quyền địa phương du lịch cần đi đầu trong việc kiến tạo một môi trường thuận lợi, với các chính sách ưu đãi, quy hoạch du lịch rõ ràng và cơ chế quản lý tài nguyên du lịch minh bạch. Luận án của Nguyễn Thị Thanh Ngân (2021) khẳng định, sự ủng hộ mạnh mẽ từ chính quyền là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của DLNT. Các doanh nghiệp du lịch nông thôn cần phát huy vai trò dẫn dắt, đầu tư vào cơ sở vật chất, phát triển sản phẩm độc đáo và đẩy mạnh marketing du lịch nông thôn. Họ cũng là cầu nối quan trọng giữa thị trường và cộng đồng, giúp chuyển đổi các giá trị văn hóa bản địa và nông sản thành sản phẩm du lịch có giá trị. Đối với cộng đồng địa phương du lịch, cần tăng cường đào tạo nguồn nhân lực du lịch, trang bị kiến thức về quản lý, dịch vụ khách hàng và ý thức bảo tồn di sản. Sự trao quyền và khuyến khích tham gia vào quá trình ra quyết định sẽ giúp họ cảm thấy gắn bó và có trách nhiệm hơn với sự phát triển của điểm đến (Fong và Lo, 2015). Các Tổ chức phi chính phủ (NGOs) du lịch cũng đóng góp quan trọng trong việc hỗ trợ kỹ thuật, truyền thông và xây dựng năng lực cho cộng đồng. Ngoài ra, việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế du lịch nông thôn từ các mô hình thành công sẽ cung cấp những bài học quý giá, giúp Việt Nam định hình con đường phát triển bền vững cho DLNT. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một hệ sinh thái hợp tác chặt chẽ, nơi mỗi bên đều phát huy tối đa tiềm năng của mình, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho du lịch nông thôn bền vững và góp phần vào sự thịnh vượng chung của nông thôn mới.

4.1. Vai trò Chính quyền Địa phương Du lịch trong Kiến tạo Chính sách

Vai trò chính quyền địa phương du lịch là không thể thiếu trong việc định hướng và hỗ trợ phát triển du lịch nông thôn bền vững. Theo Wilson và cộng sự (2001), sự ủng hộ và tham gia của chính quyền là một trong những yếu tố cần thiết để DLNT thành công. Chính quyền địa phương chịu trách nhiệm xây dựng và triển khai các chính sách, quy định về quy hoạch du lịch, quản lý đất đai và quản lý tài nguyên du lịch một cách minh bạch và công bằng. Họ cần tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi cho doanh nghiệp du lịch nông thôn và khuyến khích các mô hình hợp tác công tư (PPP) du lịch. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cần đóng vai trò trung gian trong việc giải quyết xung đột lợi ích giữa các bên, đảm bảo cộng đồng địa phương du lịch được hưởng lợi xứng đáng và có tiếng nói trong quá trình phát triển (Ghaderi và Henderson, 2012). Việc lồng ghép DLNT vào các chương trình quốc gia như Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một cách tiếp cận hiệu quả, giúp DLNT trở thành một động lực phát triển kinh tế nông nghiệp và tạo sinh kế bền vững. Các hoạt động xúc tiến, marketing du lịch nông thôn ở cấp độ địa phương và khu vực cũng cần có sự dẫn dắt của chính quyền để tạo hiệu ứng lan tỏa, bảo vệ văn hóa bản địađa dạng sinh học.

4.2. Đào tạo Nguồn Nhân lực Du lịch và Bảo tồn Văn hóa Bản địa

Đào tạo nguồn nhân lực du lịch là yếu tố sống còn để phát triển du lịch nông thôn bền vững, đặc biệt là cho cộng đồng địa phương du lịch. Các khóa đào tạo cần tập trung vào kỹ năng mềm như giao tiếp, đón tiếp khách, kỹ năng quản lý homestay nông thôn, chế biến ẩm thực, và hướng dẫn viên địa phương. Nâng cao trình độ nhận thức về phát triển bền vững và tầm quan trọng của bảo tồn di sản cũng là một phần không thể thiếu. Luận án của Nguyễn Thị Thanh Ngân (2021) nhấn mạnh rằng, ở các vùng dân tộc thiểu số, khó khăn về nhận thức là nguyên nhân quan trọng đòi hỏi cách tiếp cận đào tạo khác biệt. Song song với đào tạo, việc bảo tồn văn hóa bản địa là trọng tâm của DLNT. Các hoạt động du lịch cộng đồng cần được thiết kế để du khách có thể trải nghiệm và tìm hiểu về phong tục tập quán, nghề truyền thống, lễ hội và ẩm thực đặc sắc của địa phương. Điều này không chỉ tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo mà còn góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa cho các thế hệ mai sau (Viện Nghiên cứu và Phát triển du lịch, 2014). Các doanh nghiệp du lịch nông thônTổ chức phi chính phủ (NGOs) du lịch có thể hợp tác với chính quyền địa phương để triển khai các chương trình đào tạo và dự án bảo tồn di sản, đảm bảo rằng DLNT không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn là cầu nối gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

V. Kết quả Nghiên cứu Thực tiễn Hợp tác Các Bên tại Tỉnh Lâm Đồng

Nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Lâm Đồng, cụ thể là các huyện Lạc Dương và Lâm Hà, đã cung cấp những cái nhìn sâu sắc về quan hệ hợp tác các bên trong phát triển du lịch nông thôn bền vững (Nguyễn Thị Thanh Ngân, 2021). Kết quả cho thấy, dù có nhiều tiềm năng về cảnh quan, văn hóa bản địađa dạng sinh học, DLNT tại đây vẫn đối mặt với những thách thức đáng kể liên quan đến sự phối hợp giữa các chủ thể. Các hình thức hợp tác chủ yếu bao gồm liên kết giữa các homestay nông thôn, hợp tác giữa nông hộ và doanh nghiệp du lịch nông thôn trong việc tiêu thụ sản phẩm OCOP và tổ chức các tour trải nghiệm. Tuy nhiên, mức độ hợp tác vẫn còn hạn chế, chủ yếu mang tính tự phát và chưa có chiến lược rõ ràng từ chính quyền địa phương. Luận án chỉ ra rằng, các nhân tố thúc đẩy hợp tác bao gồm lợi ích kinh tế rõ ràng, sự tin tưởng lẫn nhau và sự hỗ trợ từ chính sách. Ngược lại, các nhân tố cản trở bao gồm thiếu nhận thức về phát triển bền vững, mất cân bằng quyền lực, thiếu kỹ năng quản lý tài nguyên du lịchmarketing du lịch nông thôn trong cộng đồng địa phương du lịch. Điều này dẫn đến việc sinh kế bền vững của người dân chưa được cải thiện đáng kể và tác động môi trường du lịch chưa được kiểm soát chặt chẽ. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng, để hợp tác thành công, cần có sự cam kết mạnh mẽ từ tất cả các bên, đặc biệt là chính quyền địa phương du lịch trong việc xây dựng quy hoạch du lịch toàn diện và cơ chế phân chia lợi ích công bằng. Việc đào tạo nguồn nhân lực du lịch và nâng cao năng lực cho cộng đồng cũng là một yêu cầu cấp thiết để họ có thể chủ động tham gia và hưởng lợi từ DLNT. Các bài học từ Lâm Đồng là minh chứng thực tiễn, giúp các địa phương khác hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của hợp tác các bên trong việc kiến tạo một nền DLNT thực sự bền vững.

5.1. Phân tích Các Hình thức Hợp tác Hiện có và Nhân tố Ảnh hưởng

Tại Lâm Đồng, các hình thức hợp tác các bên trong DLNT khá đa dạng nhưng chưa đồng bộ. Luận án của Nguyễn Thị Thanh Ngân (2021) đã nhận diện các hình thức hợp tác chính thức và phi chính thức. Hợp tác phi chính thức thường diễn ra giữa các hộ gia đình có homestay nông thôn, hoặc giữa nông dân và các cơ sở kinh doanh nhỏ trong việc cung cấp nông sản, sản phẩm OCOP. Hợp tác chính thức hơn có thể là các liên kết chuỗi giá trị du lịch nhỏ giữa doanh nghiệp du lịch nông thôn và các tổ chức địa phương. Các nhân tố thúc đẩy hợp tác bao gồm mong muốn tăng thu nhập, chia sẻ rủi ro, và tiếp cận thị trường rộng lớn hơn. Ví dụ, một số trang trại du lịch đã liên kết để tạo ra các tour trọn gói, bao gồm trải nghiệm nông nghiệp, thưởng thức ẩm thực văn hóa bản địa và mua sắm đặc sản. Tuy nhiên, các nhân tố cản trở cũng rất rõ ràng: thiếu niềm tin, mất cân bằng quyền lực giữa các bên (đặc biệt là giữa doanh nghiệp và cộng đồng địa phương du lịch), thiếu kinh phí và kỹ năng marketing du lịch nông thôn, cũng như sự thiếu rõ ràng trong vai trò của chính quyền địa phương du lịch trong việc điều phối. Công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch còn hạn chế, khiến người dân khó chủ động tham gia vào các hoạt động phức tạp hơn. Việc nhận diện và giải quyết các yếu tố này là cực kỳ quan trọng để xây dựng một nền tảng hợp tác vững chắc cho phát triển du lịch nông thôn bền vững.

5.2. Yếu tố Thành công và Hạn chế cho Phát triển Du lịch Nông thôn Bền vững

Nghiên cứu tại Lâm Đồng của Nguyễn Thị Thanh Ngân (2021) đã đúc kết các yếu tố thành công và hạn chế then chốt cho phát triển du lịch nông thôn bền vững. Yếu tố thành công bao gồm sự cam kết mạnh mẽ của các bên, đặc biệt là từ cộng đồng địa phương du lịchdoanh nghiệp du lịch nông thôn. Việc xây dựng niềm tin, chia sẻ thông tin minh bạch và phân chia lợi ích công bằng là cốt lõi để duy trì hợp tác lâu dài. Sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương du lịch thông qua các chính sách khuyến khích, quy hoạch du lịch có tầm nhìn và các chương trình đào tạo nguồn nhân lực du lịch cũng đóng vai trò quan trọng. Ngoài ra, việc phát huy tối đa các giá trị văn hóa bản địa, đa dạng sinh học và tạo ra sản phẩm OCOP độc đáo giúp thu hút du khách và gia tăng giá trị. Ngược lại, những hạn chế bao gồm nhận thức chưa đầy đủ về phát triển bền vững, thiếu kỹ năng quản lý tài nguyên du lịch, xung đột lợi ích giữa các bên và sự cạnh tranh không lành mạnh. Các tác động môi trường du lịch tiêu cực do khai thác quá mức hoặc thiếu kiểm soát cũng là một mối lo ngại. Việc khắc phục những hạn chế này đòi hỏi một nỗ lực tổng hợp, với sự tham gia chủ động của tất cả các bên, hướng tới mục tiêu chung là một nền DLNT thực sự sinh kế bền vững và hài hòa.

VI. Tương Lai Nào cho Phát triển Du lịch Nông thôn Bền vững Việt Nam

Hướng tới tương lai, phát triển du lịch nông thôn bền vững tại Việt Nam đòi hỏi một tầm nhìn chiến lược và sự phối hợp đồng bộ giữa tất cả các bên liên quan. Các nghiên cứu, đặc biệt là luận án của Nguyễn Thị Thanh Ngân (2021) về Lâm Đồng, đã cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để định hình con đường này. Việt Nam có tiềm năng to lớn với văn hóa bản địa phong phú, đa dạng sinh học đặc sắc và kinh tế nông nghiệp phát triển. Tuy nhiên, để hiện thực hóa tiềm năng đó, cần giải quyết triệt để các thách thức hiện có, từ việc nâng cao năng lực cộng đồng địa phương du lịch đến cải thiện quy hoạch du lịchquản lý tài nguyên du lịch. Việc xây dựng một khung nghiên cứu vững chắc về hợp tác các bên trong DLNT bền vững sẽ là kim chỉ nam cho các chính sách và sáng kiến trong tương lai. Khung này cần tích hợp các yếu tố về kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế, nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tham gia chủ động, công bằng và minh bạch. Các hàm ý chính sách cần tập trung vào việc đào tạo nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị du lịch và đa dạng hóa sản phẩm DLNT, bao gồm cả du lịch cộng đồng, du lịch sinh tháihomestay nông thôn. Đồng thời, marketing du lịch nông thôn cần được đổi mới để thu hút cả du khách nội địa và quốc tế, quảng bá những giá trị độc đáo của nông thôn mới. Sự hợp tác giữa chính quyền địa phương du lịch, doanh nghiệp du lịch nông thôn, Tổ chức phi chính phủ (NGOs) du lịch và người dân phải được củng cố dựa trên niềm tin và lợi ích chung, đảm bảo sinh kế bền vữngbảo tồn di sản. Chỉ khi đó, DLNT Việt Nam mới có thể phát triển mạnh mẽ, trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước, giảm thiểu tác động môi trường du lịch và kiến tạo một tương lai tươi sáng cho các vùng nông thôn.

6.1. Khung nghiên cứu Đề xuất về Hợp tác các Bên trong Du lịch Nông thôn

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, luận án của Nguyễn Thị Thanh Ngân (2021) đã đề xuất khung nghiên cứu về quan hệ hợp tác các bên trong phát triển du lịch nông thôn bền vững. Khung này tập trung vào bốn trụ cột chính: xác định các bên liên quan phù hợp (bao gồm chính quyền địa phương du lịch, doanh nghiệp du lịch nông thôn, cộng đồng địa phương du lịch, và Tổ chức phi chính phủ (NGOs) du lịch), phân tích các hình thức và vai trò của hợp tác, nhận diện các nhân tố thúc đẩy và cản trở, và cuối cùng là xác định các yếu tố để hợp tác thành công. Khung nghiên cứu này nhấn mạnh rằng, thành công của hợp tác không chỉ đo lường bằng lợi ích kinh tế mà còn bởi các giá trị xã hội (như bảo tồn văn hóa bản địa, nâng cao sinh kế bền vững) và môi trường (quản lý tài nguyên du lịch, bảo vệ đa dạng sinh học). Nó cũng đề xuất một lộ trình hợp tác đa dạng, từ các mô hình hợp tác công tư (PPP) du lịch đến các liên kết chuỗi giá trị du lịch cộng đồng. Việc áp dụng khung này giúp các nhà hoạch định chính sách và quản lý DLNT có cái nhìn toàn diện, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp để tăng cường sự phối hợp, đảm bảo sự phát triển bền vững và hài hòa cho các điểm đến DLNT.

6.2. Hàm ý Chính sách và Hướng Phát triển Bền vững tiếp theo

Từ những kết quả nghiên cứu và khung đề xuất, nhiều hàm ý chính sách quan trọng được rút ra cho phát triển du lịch nông thôn bền vững tại Việt Nam. Đầu tiên, chính quyền địa phương du lịch cần nâng cao nhận thức về vai trò của mình, không chỉ là quản lý mà còn là người kiến tạo, điều phối và hỗ trợ. Cần có các chính sách cụ thể về quy hoạch du lịch tích hợp, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, và cung cấp ưu đãi cho doanh nghiệp du lịch nông thôn tham gia vào DLNT bền vững. Thứ hai, cần đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực du lịch cho cộng đồng địa phương du lịch, trang bị kỹ năng quản lý, marketing du lịch nông thôn và bảo vệ môi trường. Các chương trình hỗ trợ kỹ thuật từ Tổ chức phi chính phủ (NGOs) du lịch và các chuyên gia cũng rất cần thiết. Thứ ba, tăng cường liên kết chuỗi giá trị du lịch và xây dựng các mô hình hợp tác công tư (PPP) du lịch minh bạch, đảm bảo phân chia lợi ích công bằng giữa các bên. Việc bảo tồn di sản, văn hóa bản địađa dạng sinh học phải luôn được đặt lên hàng đầu. Cuối cùng, cần học hỏi kinh nghiệm quốc tế du lịch nông thôn, áp dụng linh hoạt các bài học thành công để phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Những hướng đi này không chỉ giúp DLNT phát triển mạnh mẽ mà còn góp phần vào mục tiêu sinh kế bền vững và sự thịnh vượng chung của các vùng nông thôn mới, đảm bảo một tương lai phát triển bền vững.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 đề cập đến tính cấp thiết của nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn. Về lý luận đã đề cập đến PTDLNT và vai trò của HTCBLQ. Đồng thời, về lý luận cũng đề cập đến các kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến HTCBLQ cả trên thế giới và trong nước. Trên cơ sở đó, đã xác định hướng nghiên cứu này còn nhiều khuyết thiếu về nội dung, địa bàn và kết quả nghiên cứu và hợp tác trong điều kiện trình độ kinh tế, nhận thức còn hạn chế và thể chế xã hội chủ nghĩa như ở nước ta thì chưa được nghiên cứu kỹ.

Về thực tiễn, nội dung này đã giới thiệu về PTDLNT trên thế giới, tại Việt Nam và tại tỉnh Lâm Đồng, và cũng đã luận giải đặc điểm PTDLNT vùng dân tộc thiểu số có những khó khăn về nhận thức là nguyên nhân quan trọng đòi hỏi cách tiếp cận khác biệt trong thúc đẩy hợp tác. HTCBLQ sẽ tổng hợp được các nguồn lực thúc đẩy PTDLNT, giải quyết được nhiều tồn tại của vùng nông thôn và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn. Theo đó, mục tiêu nghiên cứu (tổng quát và cụ thể) được xác lập, trên cơ sở đó hình thành các câu hỏi nghiên cứu phù hợp, đồng thời, tập trung vào đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án. Chương này cũng làm sáng tỏ ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài và xác định kết cấu của luận án gắn với các nội dung nghiên cứu tiếp theo.

19 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan nghiên cứu 2. Các nghiên cứu về du lịch nông thôn Từ những năm 1970, khủng hoảng nông nghiệp đã làm giảm cơ hội phát triển kinh tế nông thôn. Những thách thức mà sản xuất nông nghiệp ở Mỹ phải đối mặt đó là giá cả nông sản thấp, chi phí cao, toàn cầu hóa,… là những vấn đề làm suy giảm đáng kể thu nhập của các trang trại nhỏ ở Mỹ (Perales, 2002; Su, 2011).

Năm 1980 cuộc khủng hoảng trang trại ở vùng Midwest, Mỹ cũng dẫn đến số lượng nông dân giảm và buộc các trang trại phải cơ cấu lại để tăng thêm thu nhập bằng các hoạt động phi nông nghiệp, tiếp tục canh tác hoặc tuyên bố phá sản. Cuộc khủng hoảng nông nghiệp và mất việc làm trong sản xuất nông nghiệp có hiệu ứng đáng kể trong cộng đồng nông thôn. Hậu quả là tốc độ thất nghiệp tăng cao, thu nhập thực tế của cộng đồng dân cư bị suy giảm tại các vùng nông thôn (Wilson và cộng sự, 2001). Cũng theo Wilson và cộng sự (2001) thì những thay đổi này đã hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn, làm cho những chiến lược phát triển cũ kém hiệu quả và buộc phải tìm cách thức mới - cách phi truyền thống để duy trì sự phát triển kinh tế nông thôn.

PTDLNT là một trong những chiến lược phát triển kinh tế nông thôn vì nó mang lại thu nhập, tạo ra công ăn việc làm và giúp tiêu thụ nông sản (OECD, 1994; Fleischer và Pizam, 1997; Wilson và cộng sự, 2001; Sharpley, 2002; Su, 2011). Ở các tiểu bang Wyoming, Montana và Idaho của Mỹ, số lượng doanh nghiệp nông trang thân thiện đã tăng nhanh trong 5 năm từ 1985-1990 (OECD, 1994). Các công ty đường sắt bắt đầu quan tâm đến vận chuyển khách du lịch đến các vùng quê xa xôi có danh lam thắng cảnh hấp dẫn. Tuy nhiên, DLNT ở giai đoạn này được quan niệm tương đồng với một số loại hình du lịch ở nông trại, du lịch xanh, du lịch di sản, du lịch nhà nghỉ ở nông thôn.

Do DLNT hấp dẫn đặc biệt với khách du lịch vì gắn liền với các đặc điểm văn hóa, lịch sử, dân tộc và địa lý riêng biệt của mỗi vùng nông thôn (OECD, 1994; Wilson và cộng sự, 2001; Darău và cộng sự, 2010; Bhattacharjee, 2015) nên đã tạo một xu hướng du lịch mới là du lịch đến vùng nông thôn để tham quan và trải nghiệm. Theo số liệu thống kê năm 2014 tại Hội nghị Châu Âu về DLNT lần thứ 5, tại Châu Âu, trong tổng số 500.000 doanh nghiệp kinh doanh DLNT có 6 triệu giường ngủ, tương đương 15% khả năng đáp ứng về lưu trú. DLNT đã tạo ra hơn 100 tỷ Europe - chủ yếu trong nền kinh tế và là yếu tố quan trọng đối với sự sống còn và sự hồi sinh của nhiều vùng nông thôn (Hội nghị Châu Âu, 2014). DLNT không phải là hoàn toàn mới.

Sự quan tâm về giải trí ở vùng nông thôn đã tăng nhanh trong thế kỷ 19 và người dân thành phố muốn lấy lại cân bằng trong 20 cuộc sống do phải chịu sức ép căng thẳng từ quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa (Darău và cộng sự, 2010). DLNT là một trong số các lĩnh vực chính trong chiến lược phát triển nông thôn của nhiều quốc gia Pháp, Úc, Anh (Su, 2011). Nó không chỉ được coi là một con đường để nông thôn tái tạo và đa dạng hóa kinh tế (Su, 2011) mà còn là một hình thức để ngăn chặn các doanh nghiệp quá phụ thuộc vào nguồn thu nhập từ nông nghiệp (Hegarty và Przezborska, 2005). Năm 1998, lần đầu tiên Tổng cục Du lịch Trung Quốc đã giới thiệu về DLNT.

Đây là điều kiện thuận lợi để đa dạng hoạt động du lịch tại các trang trại và số lượng cộng đồng dân cư nông thôn đã tăng lên rất nhanh (Su, 2011). Các nghiên cứu về DLNT rất đa dạng và ở bối cảnh nhiều quốc gia khác nhau. Nghiên cứu của Wang và cộng sự (2013) về nguyên tắc, mô hình và tương lai của PTDLNT tại Trung Quốc. DLNT đã trải qua giai đoạn phát triển nhanh trong ba thập kỷ trước và DLNT được coi như chất xúc tác hiệu quả thúc đẩy phát triển nông nghiệp và sự suy giảm của vùng nông thôn.

Nhóm tác giả đã tổng quan các tiếp cận DLNT dựa trên phạm vi địa lý, mục tiêu phát triển, các nguồn lực, các chủ thể, hệ thống sản phẩm, thị trường, các nguồn lực. Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra các nguyên tắc của PTDLNT gồm chủ đề nông nghiệp, Chính quyền dẫn dắt sự tham gia của các bên liên quan, ưu tiên hàng đầu lợi ích của người nông dân, phát triển gắn với bảo vệ, thích nghi với điều kiện của địa phương. Dựa trên các nguyên tắc PTDLNT, nhóm tác giả đề xuất các mô hình PTDLNT ở Trung Quốc, bao gồm: mô hình du lịch nông nghiệp, du lịch văn hóa dân gian, du lịch làng, du lịch giải trí và kỳ nghỉ nông thôn, du lịch tìm hiểu về nông nghiệp. Trên cơ sở đó, qua kinh nghiệm thực tiễn và thực hành DLNT, nhóm tác giả đã xác định những hạn chế của PTDLNT tại Trung Quốc, bao gồm sự ủng hộ của chính quyền cho PTDLNT, điều chỉnh cấu trúc DLNT, thúc đẩy thực hành hiệu quả vùng đang bị suy giảm, thiếu hụt các hoạt động trải nghiệm, thiếu sự phát triển thích hợp và thúc đẩy văn hóa nông thôn.

Nghiên cứu của Khartishvili và cộng sự (2019) về du lịch ở vùng nông thôn của Georgia và đối tác quốc tế như là một phương tiện để phát triển khu vực nông thôn và là một kênh việc làm thay thế trong lĩnh vực nông nghiệp. Nghiên cứu đã đề xuất thể chế hóa DLNT trong nước và đề xuất các hành động liên quan. Dựa vào kết quả phỏng vấn các bên liên quan khác nhau và thảo luận nhóm, những thách thức gần đây của PTDLNT là tiếp thị du lịch ở mức độ quốc gia gắn với sản phẩm DLNT. Các phát hiện chính của nghiên cứu bao gồm các khuyến nghị tạo ra một cấu trúc trung tâm hàng đầu cho DLNT ở cấp quốc gia, điều này sẽ mang tính chiến lược các vấn đề và định mức chung của DLNT.

Đồng thời, nhóm nghiên cứu đề xuất thành lập tổ chức quản lý điểm 21 đến, vì sẽ tích hợp các quy định chung trong luật pháp vùng và tiếp thị với sự HTCBLQ chặt chẽ tại địa phương. Blancas và cộng sự (2011) đã đề xuất hệ thống chỉ số để phân tích tính bền vững của hoạt động du lịch tại các điểm đến nông thôn cho công tác quản lý du lịch trong PTDLNT tại Andalusia (Tây Ban Nha). Kết quả xác định các chỉ ra những chỉ tiêu về xã hội đối với CĐĐP; các chỉ tiêu về kinh tế (lợi ích kinh tế, sự hài lòng du khách, lập kế hoạch du lịch, thời vụ, việc làm, vận chuyển du lịch, lộ trình và cạnh tranh điểm đến) và các chỉ tiêu về môi trường (quản lý năng lượng, hệ sinh thái, bảo tồn tài nguyên và xử lý nguồn nước, ô nhiễm không khí). Phương pháp phân tích thành phần chinh (Principal Component Analysis - PCA) được sử dụng để đánh giá chỉ số bền vững cho vùng nông thôn.

Kết quả nghiên cứu là chỉ dẫn quan trọng cho các nhà quản lý và nhà hoặc định chính sách PTDLNT bền vững để hiểu rõ hơn quá trình chuyển đổi sang tính bền vững tại các điểm đến DLNT. Lo và cộng sự (2013) về DLNT và hình ảnh điểm đến thông qua khảo sát 297 người dân là CĐĐP từ 34 điểm DLNT ở Malaysia. Năm giả thuyết bao gồm các lĩnh vực về xã hội, kinh tế, môi trường, văn hóa và cộng đồng về hình ảnh điểm đến đã được phát triển. Kết quả nghiên cứu cho thấy CĐĐP quan tâm nhất đến tác động xã hội và các giá trị của cộng đồng trong việc duy trì hình ảnh điểm đến của họ.

Nghiên cứu của Keyim (2017) về quản trị hợp tác du lịch, phát triển cộng đồng nông thôn ở Phần Lan. Phương pháp nghiên cứu trường hợp đã được thực hiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy cộng đồng làng xã nhận được lợi ích du lịch hạn chế do nhiều ràng buộc khác nhau bắt nguồn từ các điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt và hệ thống thể chế của làng. Tuy nhiên, việc đấu tranh để hình thành cách tiếp cận quản trị hợp tác DLCĐ công bằng và hiệu quả có thể mang lại những lợi ích kinh tế xã hội tích cực cho làng và cho các cộng đồng nông thôn đang suy giảm.

Trong những năm gần đây, tại Việt Nam, PTDLNT đã nhận được sự quan tâm nhiều hơn của các nhà nghiên cứu. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào làm rõ cách hiểu về DLNT, đánh giá tiềm năng PTDLNT trong các bối cảnh khác nhau hoặc nghiên cứu hành vi khách du lịch nông thôn (Bùi Thị Lan Hương, 2012; Hoàng Ngọc Minh Châu và Trần Duy Minh, 2016; Đào Ngọc Cảnh và Ngô Thị Ái Thi, 2018).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ