Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển du lịch nông nghiệp. Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu. Thực trạng phát triển du lịch nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cung, cầu du lịch nông nghiệp Chương 5. Gợi ý chính sách nhằm phát triển du lịch nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng. TÔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUAN VE PHAT TRIEN DU LICH NÓNG NGHIEP 1. Các nghiên cứu liên quan đến du lịch nông nghiệp 1.
Các nghiên cứu nước ngoài Thứ nhất, nghiên cứu phát triển DLNN dưới góc độ phân tích cung du lịch nông nghiệp. Matyakubov at al. (2022) cho thấy một trong những rào cản đối với cung DLNN là năng lực của hộ nông dân và sự thiếu sự sẵn lòng của họ, hộ nông dân coi DLNN là một loại hình du lịch phức tạp hơn vì nông dân không có đủ kiến thức về những việc cần làm và cách phát triển du lịch nông nghiệp tai trang trại của họ. Dé tham gia cung ứng DLNN, nông dân cần có những khả năng và kỹ năng cần thiết, một số trong đó bao gồm các yếu tố thương mại và nguồn lực cơ cấu.
Kizos & Iosifides (2007), Sharpley (2002) đã chứng minh dé phát triển DLNN thi cần phân tích phía cung nhằm nhận diện được yếu tố tạo động lực cho cung DLNN. Sharpley (2002), Evans & Ilbery (1992) cũng nghiên cứu cung DLNN và cho thấy yếu té thu nhập, tài chính có vai trò lớn trong việc duy trì các dịch vụ, hoạt động DLNN, quy mô hoạt động, thu nhập của hộ nông dân và đáp ứng nhu cầu DLNN và góp phần phát triển DLNN. Trong khi đó Lundmark & Miiller (2010), Phelan & Sharpley (2012) lại cho thay dé phát triển cung DLNN cần có sự tham gia của hộ nông dân dé cung cấp các sản phâm DLNN, các yếu tố liên quan đến kỹ năng, trình độ, kiến thức sẽ ảnh hưởng đến quyết định tham gia DLNN, ảnh hưởng đến kha năng tổn tại và cũng đồng quan điểm với các nghiên cứu trên là nhu cầu DLNN sẽ thu hút, tạo động lực để hộ nông dân tham gia DLNN. Trong một nghiên cứu về DLNN tại Đức, Oppermann (1995) đã phát hiện ra động cơ của hộ nông dân kinh doanh DLNN, động cơ tác động đến hoạt động DLNN của du khách và sự tồn tại của DLNN góp phan thúc day cung DLNN, nghiên cứu cho thấy hơn 80% các hộ nông dân kinh doanh DLNN là nhỏ lẻ, chưa đạt chuẩn so với quy định pháp lý, hầu hết nông dân đều gặp khó khăn đối với chi phi đầu tư, nhận thức về cách quản lý còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm, kiến thức về du lịch.
Mặt khác DLNN được xem như giải pháp tạo ra thu nhập cho hộ, tạo công ăn việc làm cho các thành viên trong gia đình, góp phần phát triển du lịch, tuy nhiên sự đóng góp này chỉ chiếm ty lệ nhỏ, chưa xứng với tiềm năng. Khi so sánh phản héi của nông dân kinh doanh DLNN và du khách về động cơ du lịch của du khách thì đều cho thấy yếu tố tài nguyên du lịch, các hoạt động tham quan có tác động đáng ké, những điểm DLNN đạt được sự thành công là những điểm có sự tương tác tốt với du khách, họ hiểu nhu cầu của du khách và có sự thay đổi để đáp ứng nhu cầu của du khách, còn những điểm DLNN bị ngừng hoạt động là những điểm không thấy hết được động cơ của du khách nên chưa có sự điều chỉnh phù hợp. Trong nghiên cứu của Barbieri (2013) tại Hoa ky đã cho thấy các nhóm yếu tố kinh tế ở cấp vi mô (hộ gia đình) như yếu tố thu nhập, nhóm yếu tố xã hội như lao động, nhóm yếu tố văn hóa xã hội như tạo việc làm cho phụ nữ và các thành viên trong gia đình, số năm làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, nhóm yếu tố về môi trường như cải thiện môi trường sống cho động vật hoang đã, quản lý chất thải cho điểm DLNN có tác động đáng ké đến cung DLNN, đồng quan điểm với quan điểm này có nhóm tác giả Tew & Barbieri (2012), McGehee (2007), Ollenburg & Buckley (2007), Veeck at al. (2006), Fleischer & Tchetchik (2005) và Carlsen at al.
Trong khi đó Choo & Jamal (2009) và Barbieri & Mshenga (2008) lại cho thấy việc bảo vệ tài nguyên nông nghiệp, di sản địa phương và kiến thức nông nghiệp của hộ nông dân ảnh hưởng đến cung DLNN. Thúc đây cung DLNN đạt hiệu quả liên quan chặt chẽ đến lợi ích của các hộ nông dân khi tham gia DLNN, Barbieri & Tew (2016) đã chứng minh lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến cung DLNN của các hộ nông dân ở Missouri, kết quả cho thấy DLNN có tác động tích cực đến lợi nhuận của nông dân, phần lớn các nông dân sau khi tham gia DLNN đều có lợi nhuận tăng gấp hai hoặc nhiều hơn, điều này đóng góp lớn cho thúc đây cung DLNN, góp phan phát triển DLNN 6 Missouri. Kết quả cũng cho thay yếu tố diện tích, hoạt động phi nông nghiệp của nông dân, số lượng du khách, yếu tố tài nguyên nông nghiệp, yêu tố quản lý tác động đến cung DLNN, yếu tố khoảng cách không tác động đến hoạt động DLNN. Nghiên cứu cũng chỉ rõ nông dân cần đầu tư nhiều về yêu tố lao động, thời gian dé hoạt động DLNN phát triển tốt hơn, đặc biệt là những người mới tham gia DLNN, việc hộ nông dân nhận thức được các chiến lược tiếp thị đa dạng cũng tác động tích cực đến cung DLNN.
Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu cho rằng phần lớn nông dân không bán hàng trực tiếp được từ hoạt động DLNN, trong khi các hộ nông dân đều tin tưởng răng việc bán hàng trực tiếp có gia tăng và lợi nhuận cũng tăng khi có hoạt động DLNN, điều này cho thấy cần có một nghiên cứu khác trong tương lai phân tích lợi ích kinh tế của DLNN. Bagi & Reeder (2012) cũng đồng quan điểm với Barbieri & Tew (2016) và cho thấy vai trò lợi ích của hộ nông dân khi tham gia hoạt động du lịch sẽ ảnh hưởng đến cung DLNN, dựa trên lợi ích tối đa nghiên cứu đã phân tích sự lựa chọn của nông dân giữa hoạt động nông nghiệp truyền thống và hoạt động nông nghiệp có kết hợp du lịch, nghiên cứu chỉ rõ quyết định có tham gia hay không vào DLNN của nông dân bị tác động bởi diện tích đất sở hữu (không phải đất thuê) và DLNN giúp cho nông dân kiếm thêm thu nhập từ diện tích đất này. Một điểm DLNN có nhiều hình thức cho du khách tham gia trải nghiệm như đi bộ tham quan, được săn bắn, câu cá hoặc các hoạt động giải trí khác tại điểm du lịch, những hoạt động này sẽ thu hút du khách, tạo cơ hội tăng doanh thu cho nông dân, việc bảo tồn tài nguyên đất, danh lam thắng cảnh của vùng nông nghiệp, động vật hoang dã cũng góp phần giúp cung DLNN phát triển. Sự quyết định của nông dân cũng bị ảnh hưởng đáng ké từ yếu tố đặc điểm của chủ hộ (độ tuôi, trình độ học vấn, khả năng tiếp cận Internet của chủ hộ, chủ hộ có sử dụng tư vấn quản lý hay không), vị trí khu vực mà điểm DLNN đang tọa lạc.
Nghiên cứu này đã cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà quản lý du lịch, các chuyên gia khuyến nông và những cá nhân khác ở địa phương nhăm thúc day phát trién DLNN. Mặt khác nông dân có thé sử dụng kết quả nghiên cứu nay dé đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của họ dé đưa ra kế hoạch hoạt động DLNN cho phù hợp, nghiên cứu cũng nhắn mạnh rằng những khu vực mà nông dân có nhiều khả năng tham gia DLNN nhất không nhất thiết phải là những nơi có DLNN tạo ra thu nhập nhiều nhất, nó cho thấy có sự khác biệt đáng ké về thu nhập trên mỗi điểm DLNN (như loại hình DLNN, các hoạt động tại điểm DLNN), điều này mở ra hướng nghiên cứu mới đề phân tích các yếu tố đóng góp cho việc tham gia của người dân sẽ mang lại lợi ích công cộng lớn nhất như (lợi ích về môi trường, lợi ích về sức khỏe). Nhóm tác giả Anthony at al. (2017) đã sử dụng thuyết hữu dụng (lý thuyết về 10 lợi ích) để phân tích mức thỏa dụng tối đa mà hộ nông dân mong đợi có được từ việc tham gia DLNN dé quyết định có tham gia hay không, kết quả cho thấy biến tác động lớn nhất đến quyết định tham gia DLNN là trình độ học van, tiếp đó là yếu tố chủng tộc, yếu tố khoảng cách, thu nhập hộ gia đình trước thuế, kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước như Bagi và Reeder (2012) và cung cấp thông tin hữu ích cho các chuyên gia khuyến nông, các nhà hoạch định chính sách cho các chương trình đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật cho hộ nông dân, nhất là những người nông dân có trình độ học van hạn chế, họ gặp khó khăn khi tham gia DLNN.
Tại một vùng Tây Bắc nước Y, Broccardo at al. (2017) đã phân tích các yêu tô thành công trong việc cung ứng DLNN6 Piedmont và kết qua chứng minh yếu tô lao động (bao gồm cả số lượng va chất lượng) là chìa khóa giúp cho cung DLNN phát triển thành công, một yếu tố quan trọng khác có tác động đến cung DLNN là yếu tổ tài chính thé hiện qua các khoản đầu tư của nông dân, yếu tố nhận thức của nông dân về phân khúc khách hàng của họ. Cũng tiếp cận ở khía cạnh lợi ích kinh tế, một số tác giả cho thấy hộ nông dân tham gia DLNN có vai trò quan trong dé phát triển DLNN, trong đó yếu té thu nhập, quy mô diện tích, các hoạt động sản xuất nông nghiệp tác động đến cung DLNN (Barbieri & Mahoney, 2009; Nickerson at al. Mặt khác, Barbieri & Tew (2010) cũng khang định thêm dé cung DLNN that sự hiệu quả thi ngoài yếu tổ thu nhập, quy mô diện tích của hộ kinh doanh DLNN có tác động không nhỏ thì một số yếu tố khác cũng có tác động đáng ké như yếu tố kỹ năng quản lý, quảng cáo, xúc tiến DLNN.
Đồng quan điểm, nhóm tác giả Chang at al. (2019), Sharpley (2007), Veeck at al. (2006), Reeder & Brown (2005), Che at al. (2005) cho thay viéc tang thu nhập của các hộ nông dân kinh doanh DLNN sẽ góp phan day nền kinh tế phát triển thông qua việc tăng thuế, tạo việc làm, thu nhập cho cư dân địa phương và từ đó tạo động lực cho hộ nông dân quyết định tham gia du lịch.
Ở khía cạnh lợi ích xã hội, Ollenburg & Buckley (2007), Veeck at al.