phần mở đầu và kết luận, nội dung luận án đƣợc cấu trúc trong 3 chƣơng, gồm: Chƣơng 1. Tổng quan, sơ sở lý luận phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại các di sản thế giới ở Việt Nam Chƣơng 2. Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại khu vực di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long và di sản văn hóa thế giới đô thị cổ Hội An Chƣơng 3. Định hƣớng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long và di sản văn hóa thế giới đô thị cổ Hội An 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1.
TỔNG QUAN, CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC DI SẢN THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 1. Các công trình nghiên cứu về du lịch dựa vào cộng đồng Theo các nhà nghiên cứu du lịch, thuật ngữ DLDVCĐ xuất hiện từ những năm 1970 [66], mặc dù trƣớc đó (1950 đến 1960), yếu tố CĐĐP đã đƣợc đề cập đến trong các nghiên cứu, dự án quy hoạch du lịch ở các nƣớc phát triển [119, tr. Sự ra đời của DLDVCĐ có liên quan đến những hạn chế của ngành du lịch - "mang trong nó những hạt giống để phá huỷ chính mình" [147, tr.
Theo nghiên cứu của Griffin, từ những năm 1980, đã có nhiều hình thức và chiến lƣợc du lịch đƣợc đề cập để thay thế cho du lịch đại chúng nhằm hạn chế các tác động tiêu cực có thể xảy đến đối với lãnh thổ du lịch: Soft/Low Impacts/Green/Eco/Cultural/ -Responsible of tourism, trong đó có cách tiếp cận cộng đồng (community approachs) (dẫn theo [154, tr. Tuy nhiên phải đến năm 1985, sau cuốn sách “Du lịch: một cách tiếp cận cộng đồng” của Murphy (Tourism: A Community Approach), lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng mới thực sự trở thành trung tâm của các giải pháp phát triển du lịch bền vững, theo nhận định của Pimrawee Rocharungsat [154, tr. Cũng giống nhƣ nhiều lý thuyết khoa học khác, khi mới xuất hiện, DLDVCĐ đã tạo nên nhiều cuộc tranh luận khoa học sôi nổi về vai trò, ý nghĩa của nó đối với phát triển bền vững, với hai quan điểm chính: Sự hoài nghi: Taylor chỉ ra rằng, sự tham gia của ngƣời dân địa phƣơng thƣờng đƣợc quan tâm nhƣ là chìa khoá để phát triển bền vững và bản thân họ đều mong muốn đƣợc trở thành một phần của SPDL, để chia sẻ lợi ích cũng nhƣ những chi phí. Tuy nhiên việc phát triển DLCĐ có thể mở rộng sự khác biệt giữa những thành viên trong cộng đồng.
Điều này có thể trở thành trở ngại cho sự thành công của các dự án phát triển du lịch [164]. Baum cũng chia sẻ: ý định tốt đẹp về nguyện vọng phát triển vẫn có thể dẫn đến những sai lầm khi mà cách tiếp cận hời hợt và không nhận ra đƣợc các đặc trƣng của những cộng đồng liên quan [125]. Trong khi đó Holland tuyên bố rằng: thậm chí với một kỹ thuật tham gia thực tế tốt nhất và một cam kết trách nhiệm của địa phƣơng, những mô hình gắn vào những CĐĐP vẫn tạo nên những rào cản để đạt đƣợc mục đích phát triển du lịch bền vững [137]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự tin tƣởng: mặc dù vẫn còn những ngƣời hoài nghi về hiệu quả của DLDVCĐ, nhƣng hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất rằng DLDVCĐ sẽ là một giải pháp tất yếu cho du lịch trong tƣơng lai.
Tiêu biểu cho quan điểm này là Ritchie, ngay từ năm 1993, ông đã dự báo: sự phát triển của DLCĐ sẽ làm thay đổi ngành du lịch trong tƣơng lai, và theo ông du lịch trong tƣơng lai sẽ tập trung nhiều hơn đến trách nhiệm của cộng đồng đối với du lịch - (dẫn theo [154, tr. Trƣớc đó vào năm 1988, Peter Murphy đã đề cập đến vấn đề cộng đồng lập quy hoạch du lịch nhƣ là một giải pháp để nâng cao vai trò của du lịch trong bảo tồn và là bằng chứng để chứng minh cho khả năng liên kết giữa CĐĐP với ngành công nghiệp du lịch để trở thành quan hệ đối tác cùng có lợi tại Bristis Columbia, Canada [148]. Năm 1990, Brian Keogh đã chỉ ra vai trò của việc cung cấp thông tin đầy đủ cho CĐĐP trong các dự án quy hoạch du lịch có ý nghĩa quan trọng để mang đến sự thành công cho các dự án [139]. Ở khu vực Đông Nam Á, thuật ngữ DLDVCĐ chính thức xuất hiện và đƣợc phổ biến rộng rãi ở các nƣớc ASEAN từ năm 1995 nhƣng phải đến năm 2003 nó mới lần đầu xuất hiện tại Việt Nam [66].
Trƣớc đó vào thập niên 1990, nƣớc ta rất phổ biến khái niệm DLST, du lịch xanh. Xét về bản chất, những loại hình du lịch này có nhiều nét tƣơng đồng (đều hƣớng đến việc bảo tồn tài nguyên, bảo vệ môi trƣờng và mang lại lợi ích cho CĐĐP). Mặc dù xuất hiện chƣa lâu, nhƣng DLDVCĐ đã thu hút đƣợc đông đảo các nhà khoa học tham gia nghiên cứu. Một số nhà khoa học tiêu biểu trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển DLDVCĐ tại Việt Nam phải kể đến: Trƣơng Quang Hải [25], Phạm Trung Lƣơng [54,55], Phạm Hoàng Hải [23,24], Đặng Duy Lợi [47,48], Phạm Quang Anh [2], Trần Đức Thanh [75], Nguyễn Văn Lƣu [56, 57], Nguyễn Thị Sơn [71], Đỗ Thị Minh Đức [17], Võ Quế [66], Nguyễn Thị Hải [19, 20], Bùi Thị Hải Yến [119]… Trong các công trình nghiên cứu của mình các nhà khoa học kể trên đã tập trung làm sáng tỏ khái niệm về DLDVCĐ, DLCĐ hay DLST; các điều kiện để phát triển DLDVCĐ, DLCĐ, những bài học thực tiễn trong và ngoài nƣớc.
Về thực tiễn phát triển: với cơ sở lý thuyết phong phú nhƣ vậy, các dự án DLDVCĐ đã đƣợc triển khai trên khắp thế giới, nhƣng chủ yếu ở các nƣớc đang phát triển. Ví dụ, dự án phát triển DLDVCĐ tại DSTG Hoàng Sơn của Trung Quốc, đây là một vùng núi có phong cảnh đẹp, hùng vĩ và đã đƣợc công nhận là Di sản 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiên nhiên thế giới (theo các tiêu chí ii, vii và x) năm 1990. DLDVCĐ tại Hoàng Sơn đƣợc đánh giá là một trong những thành công đáng chú ý nhất [158], thông qua việc khuyến khích CĐĐP tham gia xây dựng các cơ sở du lịch bổ sung, hỗ trợ dân làng Fuxi (ngôi làng nằm trong khu vực di sản) xây dựng "Monkey Valley" trở thành một điểm du lịch hấp dẫn đã trực tiếp làm tăng thu nhập cho ngƣời dân địa phƣơng. Tại "Monkey Valley", từ năm 1994 đến 1997, điểm du lịch này đã đã đón tiếp 125 nghìn lƣợt khách, phí vào cửa là 1,2 triệu nhân dân tệ (200 nghìn USD) cho CĐĐP [136].
Ngoài lợi ích về kinh tế, DLDVCĐ tại đây đã góp phẩn thay đổi nhận thức của cộng địa phƣơng trong việc bảo vệ môi trƣờng, tài nguyên thiên nhiên. Tại khu vực Đông Nam Á, DLDVCĐ đã phát triển mạnh ở các nƣớc Thái Lan, Inđônêsia, Philippin. Ví dụ, dự án phát triển DLDVCĐ tại DSTG ruộng bậc thang Ifugao (Philippin), đây là một công trình nhân tạo cổ có lịch sử từ 2000 đến 6000 năm trên vùng núi thuộc tỉnh Ifugao (độ cao 1500m) đã đƣợc UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1995 (tiêu chí iii, iv,v). DLDVCĐ tại Ifugao bắt đầu đƣợc phát triển từ năm 2003 và đến năm 2006, có 5 tour du lịch đƣợc tổ chức trên cơ sở lịch thời vụ nông nghiệp trong khu vực.
Sự phát triển DLDVCĐ đã mang đến những lợi ích kinh tế trực tiếp cho CĐĐP. Theo số liệu thống kê của UNESCO [169], năm 2006 Ifugao đã đón 93.037 lƣợt khách (51.400 lƣợt khách quố tế). Về doanh thu, 74.4% số ngƣời đƣợc khảo sát cho biết có thu nhập từ du lịch dƣới 6 USD/ngày, 21,6% có thu nhập trên 7 USD/ngày và thu nhập sẽ cao hơn vào mùa du lịch (57,3% ngƣời đƣợc hỏi có thu nhập >7 USD/ngày). Ở Việt Nam, nhiều dự án DLDVCĐ đã đƣợc triển khai trên khắp mọi vùng miền: các thôn bản ở Sa Pa (Thanh Phú, Bản Hồ, Tả Van, San Xả Hồ, Tả Phìn…); Bắc Hà (Lào Cai); Bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình); bên cạnh đó hầu hết các Vƣờn Quốc Gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các khu di sản đều có các mô hình DLCĐ, đáng chú nhất là Vƣờn Quốc Gia Cúc Phƣơng (Ninh Bình), Hội An (Quảng Nam), vịnh Hạ Long….
Các dự án kể trên có mức độ thành công, hiệu quả khác nhau tuy nhiên tất cả đều chỉ ra một điều, DLDVCĐ là một hƣớng đi đúng nhằm bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng trong phát triển du lịch và hƣớng đến một nền du lịch bền vững. Đây chính là những cơ sở thực tiễn để các nhà khoa học tổng kết, khái quát nhằm làm phong phú thêm nền tảng lý thuyết về DLDVCĐ. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đối với các công trình nghiên cứu về DLDVCĐ, tùy theo góc độ, quan điểm và mục đích mà có những hƣớng nghiên cứu khác nhau. Nhƣng tựu chung lại có một số tiếp cận nổi bật nhƣ sau: - Hướng tiếp cận cộng đồng tham gia phát triển DLDVCĐ: Với hƣớng tiếp cận này, cộng đồng điểm đến đƣợc xem nhƣ thành phần quan trọng nhất hay chính là chìa khóa để phát triển du lịch bền vững theo nhận định của các tác giả Murphy [147], McIntyre.
G và cộng sự [143], Muhanna [146], Niezgoda và Czernek [149], Matarrita-Cascante và cộng sự [142]. Thậm chí, Figgis và Bushell còn khẳng định thêm rằng "việc phát triển du lịch và bảo tồn mà phủ nhận các quyền và sự liên quan của CĐĐP là tự chuốc lấy thất bại nếu không đó cũng là hành động phi pháp" (dẫn theo [145]). Do vậy vấn đề mấu chốt là làm thế nào để cộng đồng tham gia có hiệu quả nhất vào loại hình du lịch này. Theo Hamzah và Khalifah, để phát triển DLDVCĐ cần một cách tiếp cận hệ thống từ nghiên cứu sự phù hợp của cộng đồng đến việc đảm bảo cơ hội cho cộng đồng tham gia vào HĐDL [135].
Một tiêu chí quan trọng khác, đó là sự phân phối lợi ích đến tất cả các hộ gia đình trong cộng đồng và quyền sở hữu, quản lý các hãng kinh doanh thuộc về cộng đồng theo luận điểm của Goodwin và Santilli [132]. Cùng với đó Matarrita- Cascante và cộng sự [142], McIntyre và cộng sự [143], Muhanna [146], Niezgoda và Czernek [149] đều cho rằng để thực hiện đƣợc mục tiêu phát triển du lịch bền vững, các CĐĐP cần tham gia vào quá trình ra quyết định. Ở khía cạnh khác Scheyvens.R lại đề cập đến vấn đề CĐĐP phải có đƣợc những biện pháp kiểm soát đối với du lịch và đƣợc chia sẻ lợi ích một cách công bằng [157].