Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên trường trung cấp chuyên nghiệp Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung cấp chuyên nghiệp của tỉnh Lạng Sơn Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ Giáo viên trường trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP 1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề Phát triển đội ngũ giáo viên có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển Giáo dục và Đào tạo. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển đội ngũ giáo viên để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực được thể hiện qua các quan điểm: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.
- Điều 15, Luật Giáo dục 2005 có ghi: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học” [10, tr. “Nhà nước có chính sách bồi dưỡng nhà giáo về chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ và chuẩn hóa nhà giáo” [10, tr. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010: “Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng qui mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục’’ [8, tr.
Muốn đạt được điều đó chúng ta phải đào tạo, bồi dưỡng họ, động viên và tạo điều kiện để họ nghiên cứu khoa học đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục. - Thực hiện đề án xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010 (Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/1/2005 của Thủ tướng Chính phủ), Tỉnh uỷ Lạng Sơn đã có Quyết định số 281-QĐ/TU, ngày 15 tháng 3 năm 2007 triển khai Đề án số 09 về nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2006- 2010 xác định mục tiêu là: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, đảm bảo về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm và trình độ chuyên môn của nhà giáo đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp giáo dục trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tạo chuyển biến cơ bản và toàn diện về chất lượng theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá; gắn việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ với công tác rèn luyện phẩm chất, đạo đức, nhân cách, xây dựng hình ảnh tốt đẹp của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Coi trọng công tác đào tạo và bồi dưỡng; kết hợp giữa sử dụng và đãi ngộ; đánh giá và có biện pháp xử lý, tạo động lực để nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục toàn tâm, toàn ý với nghề” [15, tr.
- Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (Khóa VIII) của tỉnh ủy Lạng Sơn, phần phương hướng xác định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên có chất lượng cao, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức, tận tụy với nghề nghiệp” [16, tr. Về đề tài “Phát triển đội ngũ giáo viên” đã có nhiều công trình nghiên cứu, các luận văn, luận án của các tác giả trong và ngoài nước: - Sự phát triển đội ngũ nhân viên của các tác giả KEN JONES và REID [23, tr. - Lãnh đạo và quản lý nhân viên nhằm đạt thành tích cao hơn của Max Sawatzki [32, tr. - Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI của tác giả Trần Khánh Đức [25].
Những năm gần đây có rất nhiều luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục cũng đã đề cập đến vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên. Luận văn đề tài khoa học do Sở Giáo dục và Đào tạo Lạng Sơn chủ trì cũng đã đề cập một phần đến vấn đề đó. Hơn nữa, chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo đến năm 2020 bao gồm nhiều dự án, trong đó có dự án Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Các đề tài luận văn thạc sỹ QLGD của các tác giả Trần Trang Nhung, Trịnh Hoài Hương, Nguyễn thị Lệ Chung cũng đề cập tới vấn đề này với nhiều cách nhìn khác nhau.
Qua việc khảo sát các nghiên cứu nêu trên có thể rút ra một số nhận xét 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Có nhiều cách tiếp cận, triển khai việc nghiên cứu về phát triển ĐNGV nhưng đặc biệt đứng ở góc nhìn Quản lý giáo dục rất được quan tâm. - Các đề tài, luận văn nói trên hoặc mang tính chất tổng hợp, hoặc đề cập đến các vấn đề chung về phát triển đội ngũ giáo viên các cấp … chưa có điều kiện đi sâu vào nghiên cứu áp dụng một số biện pháp cụ thể cho trường trung chuyên nghiệp tỉnh Lạng Sơn. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, Quản lý giáo dục 1.
Quản lý Từ khi hình thành xã hội loài người đã có sự phân cấp lao động, cùng với đó là xuất hiện một dạng lao động có tính đặc thù, điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định và mục tiêu nhât định dạng lao động đặc thù ấy gọi là quản lý. Như vậy quản lý là một chức năng lao động - xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động. Khái niệm Quản lý hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau Sử gia Daniel A. Wren đã nhận xét rằng: "quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy", quản lý có từ rất xa, gắn với sự xuất hiện của con người, nhưng ông cũng ghi nhận rằng cũng chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến "chất khoa học" của quá trình quản lý và dần dần hình thành nên các "lý thuyết" quản lý.
Ta xét khái niệm Quản lý theo định nghĩa của các trường phái quản lý học như sau: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra”. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa hoạt động “Quản lý” kinh điển nhất chính là “Quản lý là quá trình tác động có 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể QL trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [31. Có thể nói đây là định nghĩa kinh điển nhất về hoạt động QL.
Hiện nay, hoạt động quản lý được định nghĩa rõ hơn, quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra Tuy nhiên các tác giả đều thống nhất cơ bản khái niệm “quản lý” chính là câu trả lời cho câu hỏi ai quản lý? (chủ thể quản lý), quản lý ai? (Khách thể quản lý), quản lý cái gì? (nội dung QL), QL như thế nào? (phương thức QL), QL bằng cái gì? (Công cụ QL), QL để làm gì? (mục tiêu QL) Tóm lại, có rất nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên tất cả đều hướng đến QL được thực hiện với một tổ chức , trong một nhóm trong xã hội và người QL và người bị QL giữ vai trò trung tâm trong hoạt động QL. Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của Chủ thể QL đến dối tương quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hòa hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động mội trường. Chức năng Quản lý cơ bản được thể hiện ở sơ đồ sau: Sơ đồ 1. Chức năng cơ bản của Quản lý KH Thông KT tin quản TC lý KH: Kế hoạch TC: Tổ chức CĐ: Chỉ đạo KT: Kiểm tra CĐ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chức năng kế hoạch hoá: Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu, tương lai của tổ chức và các biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó.
Chức năng, kế hoạch hoá có 3 nội dung chủ yếu: Xác định mục tiêu; xác định và đảm bảo các nguồn lực để thực hiện mục tiêu; quyết định xem nhưng hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó. Lập kế hoạch phải trả lời câu hỏi: Làm gì (nội dung), làm thế nào (phương pháp), ai làm (phân công), khi nào làm (thời gian làm). - Chức năng tổ chức: Là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Tổ chức ở đây phải đặc biệt chú ý đến khâu tổ chức nhân sự, sắp xếp, bố trí con người vào các vị tri khác nhau.
Thực chất tổ chức là dùng người. - Chức năng chỉ đạo: Là công việc thường xuyên của người quản lý, đó là chỉ huy, ra lệnh, can thiệp khi cần thiết, điều hoà phối hợp, hướng dẫn cách làm, động viên khuyến khích và khai thác tiềm năng, tiềm lực của đội ngũ. Cái khó nhất của người chỉ đạo là hướng dẫn cách làm. - Chức năm kiểm tra: Là nhiệm vụ quan trọng của người quản lý.
Kiểm tra là xem xét thực tế, đánh giá thực trạng so với mục tiêu kế hoạch. Kiểm tra để phát hiện vấn đề, mặt tốt phải phát huy, sai lệnh để uốn nắn, xử lí và cuối cùng là để đưa ra quyết định quản lý hợp lí. Một cách khái quát nhất, có thể xem quản lý là: Một quá trình tác động có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung. Quá trình này được vận hành trong một môi trường xác định.