Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIÊN ĐỌI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHÓ THÔNG 1. Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu Báo cáo của Ủy ban quốc È giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO (1996) đã “khẳng định vai trò quyết định của người thầy giáo trong việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ có trách nhiệm xây dựng tương lai của nhân loại theo. hướng toàn cầu hóa”; khẳng định “thầy giáo là yếu tố quyết định hàng đầu đối với chất lượng giáo dục. Do đó, muốn phát triển giáo dục thì trước hết và trên hết phải phát triển đội ngũ giáo viên cả về số lượng và chất lượng” [37].
Nhận định này cho thấy công tác phát triển đội ngũ GV là vấn đề phổ biến của mọi quốc gia. Ở Philippin, quốc gia cùng khu vực và có những chỉ tiêu cơ bản tương tự như nước ta, trong kế hoạch tổng thẻ đảo tạo bồi dưỡng giáo viên 10 năm (1998-2008) đã đề ra những giải pháp đáng lưu ý. Chẳng han, trong dao tao GV thu hút những học sinh trung học có chất lượng khá, giỏi vào ngành Sư phạm. Trong sử dụng và bồi dưỡng thì xem lại thang lương GV với những người cùng trình độ để cải thiện đời sống và tạo thuận lợi cho họ trong công tác, đồng thời khai thác chỗ làm cho GV mới ra trường, giảm bớt tình trạng GV mới không có việc làm.
Mặt khác, thể chế hóa và củng cố việc bồi dưỡng. tại chức, nâng cao nhận thức của dân chúng về vai trò, tầm quan trọng của nghề dạy học và vị thế của GV trong xã hội [20]. Ở Nhật Bản, quốc gia phát triển vào bậc nhất của Châu Á, cũng đặc biệt chú trọng tới công tác phát triển đội ngũ GV. Luật Giáo dục Nhật Bản quy định: “Địa vị xã hội của giáo viên phải được tôn trọng, sự đối xử đúng đắn và phù hợp.
với giáo viên phải được đảm bảo”. Để trở thành GV phổ thông phải có chứng 10 chỉ sư phạm. Nhật Bản có quy chế bồi dưỡng bắt buộc hàng năm đối với GV phổ thông mới vào nghề. GV đương nhiệm được bồi dưỡng bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp, với phương thức đổi mới, đa dạng.
Chính sách đãi ngộ GV chủ yếu thê hiện qua lương, phụ cấp, trợ cắp. Mức tăng lương dựa vào thành tích và thâm niên công tác, trung bình 1 năm hoặc 2 năm một lần. GV trường công ở Nhật Bản được hưởng nhiều loại trợ cấp, quan trọng nhất là tiền thưởng 3 lần trong năm và cao gấp 5,2 lần lương tháng [18]. Đối với Cộng hòa Pháp, một quốc gia có nền giáo dục phát triển cao thuộc cộng đồng Châu Âu, có quy định về tuyển dụng GV phải thông qua thi tuyển (vào ngạch công chức GV).
Các cơ sở giáo dục công lập trực thuộc Bộ có thẻ tuyển dụng GV cộng tác (GV hợp đồng) đề giảng dạy các môn về kỹ thuật và đạy nghề. GV của cơ sở giáo dục tư thục cũng được hưởng chính sách nâng ngạch bậc như GV các cơ sở giáo dục công lập. Nhà nước cấp kinh phí cho hoạt động đào tạo ban đầu và nâng cao trình độ của GV các cơ sở giáo dục tư thục, cùng với mức và giới hạn áp dụng đối với GV các trường công lập. Về chế độ ưu đãi GV, Luật giáo dục Công hòa Pháp có quy định: GV chính thức hoặc thực tập sinh có quyền có nhà ở hoặc có phụ cấp nhà ở, lương chính của GV trung học và tương đương ngoài lương theo văn bằng còn có lương theo cấp bậc và trợ cấp bù giá [23].
Trong Dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục 201 1-2020 đã chỉ ra một trong những yếu kém của giáo dục Việt Nam 2001-2010 là “đội ngũ nhà giáo thiếu về số lượng và nhìn chung thấp. è chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu vừa phải tăng nhanh quy mô vừa phải đảm bảo và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục”. Trong các giải pháp phát triển giáo dục, ở văn bản chiến lược này đã đề cập giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo nhằm “đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng, đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục” [12] "1 Tại Hội nghị triển khai chương trình giáo dục phổ thông (tháng 4/2002) nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đã đánh giá: “Đội ngũ giáo viên của một số địa phương về số lượng còn thiếu, cơ cầu chưa đồng bộ, trình độ chuyên môn và phương pháp dạy học còn nhiều hạn chế, nhát là đội ngũ giáo viên công tác ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa”, đồng thời đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết nhằm kiện toàn đội ngũ GV như đánh giá, xếp loại, bồi dưỡng, đào tạo lại và giải quyết chính sách nghỉ hưu trước tuổi. Đánh giá vai trò, tầm quan trọng của công tác phát triển đi gũ GV, nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhấn mạnh: “Có thể nói rằng, nhà giáo là người quyết định đến sự thành bại của giáo dục, vì vậy chúng ta phải chăm lo đảo tạo thầy giáo, cô giáo” [5].
Báo cáo tông kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (2002), Bộ GD&ĐT nhận định “Đội ngũ giáo viên không đồng bộ về cơ cấu, nhất là giáo viên trung học cơ sở và trung học phô thông (còn thiếu các môn Sinh vật, Kỹ thuật, Giáo dục công dân, Giáo dục quốc phòng, Nhạc, Hoa, Thé duc)” [5] Đề án đổi mới chương trình giáo dục phổ thông của Bộ GD&ĐT nhận xét: “Cơ cấu đội ngũ giáo viên tuy bước đầu đã được điều chỉnh, song vẫn còn nhiều khó khăn trong việc giải quyết tình trạng dạy chéo môn và dạy không đủ số môn quy định, nhất là đối với các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Thẻ dục, Công nghệ, Giáo dục công dân, Tin học. Hiệu quả công tác bồi dưỡng giáo viên còn hạn chế. Nội dung bồi dưỡng còn chưa đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng của giáo viên” [5]. Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã nêu nhiệm vụ: “Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục để có kế hoạch đảo tạo, bồi dưỡng đảm bảo đủ số lượng và cân đối 12 về cơ cầu; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục” [15].
Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ vi iệc phê duyệt đề án “Xây dung, nang cao chat lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010” đã chỉ ra mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày cảng cao. của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đây mạnh CNH-HĐH đất nước [1 1]. Trong “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI” (1999), Giáo sư-Viện sĩ Pham Minh Hac khẳng định: đội ngũ GV là một yếu tố quyết định sự phát triển sự nghiệp GD&ĐT và đã đưa ra những chuẩn quy định đào tạo GV [19] Tiến sĩ Vũ Bá Thể đưa ra một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, trong đó có những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển giáo dục phổ thông như “xây dựng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu về số lượng, ôn định theo vùng, đồng bộ về cơ cấu” và “nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đổi mới công tác quản lý và đào tạo cán bộ quản lý giáo dục phổ thông” [19] Các luận văn thạc sĩ: “Biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các trường THPT tỉnh Đồng Nai” của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân; “Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông tỉnh Cả Mau” của tác giả Nguyễn Văn Ngoạn. đã nêu lên thực trạng cũng như các giải pháp về công tác xây dựng, phát triển đội ngũ GV, CBQL giáo dục; xác định mục tiêu phát triển giáo dục THPT trong từng giai đoạn; nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học trong trường THPT ở các tỉnh Đồng Nai và Cà Mau.
13 Ngoài ra, những công trình, nghiên cứu được công bố trên các tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, Tạp chí Phát triển giáo dục), như bài viết “Nhận diện nguồn nhân lực- cơ sở xây dựng chính sách đảo tạo và phát triển nguồn nhân lực” của Phan Văn Nhân (Tạp chí Phát triển giáo dục số 5-2002); “Định hướng nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên giai đoạn 2007-2010” của Giáo sư- Tiến sĩ Trần Bá Hoành (Tạp chí Giáo dục số 162-5/2007);. đã đề cập nhiều nội dung có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất thiết thực đối với công tác xây dựng và phát triển đội ngũ GV THPT nói chung và riêng ở một số địa phương. Tuy nhiên, các văn bản, báo cáo, luận văn, các bài viết khoa học. kể trên chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về thực trạng đội ngũ GV THPT huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi, để làm căn cứ cho việc dự báo và đ tát các biện pháp phát triển đội ngũ này trên địa bàn huyện Trả Bỏng tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.
Đây là một điểm trống đề đề tài nghiên cứu được thực hiện, nhằm đưa ra những cơ sở khoa học cho phát triển giáo dục huyện Tra Bỏng tỉnh Quảng Ngãi. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Quản lý Khái niệm quản lý là một khái niệm có ý nghĩa rất tổng quát. Từ khi xã hội loài người hình thành, hoạt động tổ chức, quản lý đã được quan tâm.
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn. Ở góc độ hoạt động, quản lý là điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi con người để đạt đến mục đích, phù hợp với quy luật khách quan. Ở góc độ khoa học, quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm. 14 đạt được mục tiêu chung.
Trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, khái niệm quản lý đã được các nhà lý luận đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau.