Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC TRONG CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN 1. Đội ngũ công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện 1. Khái niệm và đặc điểm cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện 1. Khái niệm cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện CQCM có thể hiểu là cơ quan chuyên trách một ngành, một lĩnh vực cụ thể nào đó của nhà nước hoặc của một tổ chức, có nhiệm vụ giúp cho cơ quan quản lý chung thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cụ thể để thực hiện các mục tiêu chung, tổng thể.
Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học, nhà xuất bản Công an nhân dân, CQCM thuộc UBND được hiểu là: “Cơ quan có nhiệm vụ giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng QLNN ở địa phương và đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cấp mình, đồng thời chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của CQCM cấp trên…”. Theo từ điển luật học của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp thì CQCM thuộc UBND là “Cơ quan có nhiệm vụ tham mưu, giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng QLNN ở địa phương… góp phần đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở…”. Căn cứ theo chức năng, nhiệm vụ thì CQCM thuộc UBND huyện được hiểu là “Cơ quan thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện QLNN về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương” (Khoản 1, Điều 3 Nghị Định số 37/2014/NĐ-CP).
Đặc điểm cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện - Thực hiện một hoặc một nhóm chức năng, nhiệm vụ chuyên sâu theo từng ngành, lĩnh vực, bảo đảm tính chất độc lập tương đối và tạo thành chỉnh thể cho bộ máy HCNN cấp huyện. - Được xây dựng dựa trên nền tảng tư tưởng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, do đó các CQCM ngoài việc quản lý xã hội thì còn một đặc điểm là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà chỉ phục vụ nhân dân. - Có quyền nhân danh Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, có quyền ban hành các văn bản có tính đơn phương và có thể được áp dụng những biện pháp cưỡng chế HCNN nhất định khi thực hiện nhiệm vụ của mình. - Được cơ quan có thẩm quyền thành lập, có cơ cấu tổ chức và được giao thực hiện các chức năng nhiệm vụ đồng nhất trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ.
- Được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, những công việc quan trọng của cơ quan đều được đưa ra thảo luận thống nhất trước khi triển khai thực hiện, theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. - Trong quá trình thực hiện chức năng QLNN các CQCM thuộc UBND huyện thực hiện đồng nhất tính chấp hành - điều hành. - Các CQCM thuộc UBND huyện chịu sự quản lý chặt chẽ của UBND cùng cấp và chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của CQCM cấp trên theo nguyên tắc song trùng trực thuộc, vừa chịu sự quản lý toàn diện của UBND huyện vừa chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và thanh tra, kiểm tra thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các sở, ngành cấp trên. Khái niệm và đặc điểm công việc của đội ngũ công chức trong cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện 1.
Khái niệm công chức và đội ngũ công chức Thuật ngữ công chức xuất hiện đầu tiên ở Anh vào năm 1859 nhưng cho đến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về công chức cho tất cả các quốc gia trên thế giới. Mỗi nước có một quan niệm khác nhau nên mỗi nước có một cách định nghĩa khác nhau về công chức: 10 Tại Cộng hoà Pháp, công chức được định nghĩa như sau: “Công chức là những người được tuyển dụng bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ương và địa phương nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội đồng thuộc địa phương quản lý”[32]. Tại Trung Quốc, công chức được định nghĩa như sau: “Công chức nhà nước là những người công tác trong cơ quan HCNN các cấp, trừ nhân viên phục vụ, Công chức gồm hai loại: Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực nhà nước. Các công chức này bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều hành của Hiến pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp; Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thưởng nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức.
Họ chiếm tuyệt đại đa số trong công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật”[32]. Ở Việt Nam, khái niệm công chức đầu tiên được quy định tại Điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về quy chế công chức Việt Nam, công chức là “những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Sau đó khái niệm công chức nhiều lần được thay đổi để phù hợp với tình hình lịch sử, sự phát triển của nền công vụ và yêu cầu quản lý cán bộ. Khi Luật Cán bộ, công chức ngày 13/11/2008 ra đời thay thế cho Pháp lệnh cán bộ, công chức, thì khái niệm về “công chức” được rõ ràng hơn, theo đó, “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp 11 công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.” Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức ngày 25/11/2019 đã có những điều chỉnh về khái niệm công chức theo hướng tinh gọn lại, cụ thể bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội không còn được xác định là công chức.
Qua những định nghĩa trên thì có thể thấy, dấu hiệu chung của công chức là: Là công dân của nước đó; Được tuyển dụng qua thi tuyển; Được bổ nhiệm vào một ngạch hoặc một vị trí công việc; Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và chịu sự điều chỉnh về pháp luật về công chức do đất nước đó ban hành. Những công chức khi tập hợp lại sẽ hình thành nên một đội ngũ công chức. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin thì“Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùngchức năng hoặc nghề nghiệp tập hợp thành một lực lượng. Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp, hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định”.
Từ những quan niệm, trên có thể đưa ra một khái niệm về đội ngũ công chức như sau: Đội ngũ công chức là tập hợp những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, cùng công tác trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước và cùng thực hiện những nhiệm vụ theo luật định để giúp nhà nước thực hiện tốt công tác quản lý, điều hành xã hội, phát triển kinh tế, đảm bảo quốc phòng an ninh. Khái niệm công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban 12 nhân dân huyện và đội ngũ công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Công chức trong các CQCM thuộc UBND huyện được hiểu là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh theo VTVL trong các cơ quan HCNN ở cấp huyện; tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng QLNN về ngành, lĩnh vực ở địa phương góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương. Đội ngũ công chức trong các CQCM thuộc UBND huyện được hiểu là một tập thể người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh theo VTVL trong các cơ quan HCNN ở cấp huyện; cùng tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng QLNN về ngành, lĩnh vực ở địa phương góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương. Đặc điểm công việc của đội ngũ công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện - Công việc của đội ngũ công chức trong các CQCM thuộc UBND huyện có tính chuyên môn hóa cao, phức tạp, mặc dù từng vị trí có một chức năng riêng nhưng có tính liên quan, liên hoàn và tác động lẫn nhau, giải quyết công việc này cũng góp phần giải quyết công việc của công chức khác, cơ quan khác.