Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ tại các cơ sở kinh tế dịch vụ Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ phát hành tại Công ty sách giáo dục thuộc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ phát hành tại Công ty sách giáo dục thuộc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TẠI CÁC CƠ SỞ KINH TẾ DỊCH VỤ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục 1. Quản lý Xã hội loài người hình thành và phát triển, kèm theo đó là những yêu cầu, đòi hỏi khách quan về quản lý.
Có thể nói, quản lý xuất hiện và phát triển cùng với xã hội loài người. Xét theo góc độ chính trị - xã hội, quản lý được hiểu là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt đến mục tiêu ý chí của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan. Như vậy, bản chất quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng và có chủ đích của chủ thể quản lý với khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu. Các khái niệm về quản lý được các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu trên thế giới nêu ra rất nhiều, dưới đây là một vài khái niệm trong số đó: - Theo Mary Pallét “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác”.
- Frederick Winslow Taylo cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. - Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra”. Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý” của các tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “Hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục đích đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lượng mới”. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Đặng Quốc Bảo tổng thuật: Quản lý thực chất là “Nắm” và “Buông”.
Trong “Nắm” có “Buông”, trong “Buông” có “Nắm”. Muốn “Nắm” thì phải “Buông”, “Buông” để “Nắm”, chỉ nắm cái gì cần nắm, chỉ buông cái gì cần buông. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, song có thể khái quát: Quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm bảo đảm cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể quản lý. Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành, tập hợp con người, công cụ, phương tiện, tài chính… để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt được mục tiêu định trước.
Chủ thể muốn kết hợp được các hoạt động của đối tượng theo một định hướng của quản lý thì phải tạo ra được “quyền uy” buộc đối tượng phải tuân thủ và tuân thủ một cách tự giác. Chức năng quản lý: Chức năng quản lý là nội dung, phương thức hoạt động cơ bản mà nhờ nó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý thông qua quá trình quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý tuy chưa thật đồng nhất nhưng về cơ bản các nhà khoa học đều khẳng định 4 chức năng quản lý cơ bản đó là: chức năng kế hoạch hoá, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo điều hành và chức năng kiểm tra đánh giá. * Chức năng kế hoạch hoá: Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình quản lý Từ trạng thái xuất phát của hệ thống, căn cứ vào mọi tiềm năng đã có và sẽ có, dự báo trạng thái kết thúc của hệ, vạch rõ mục tiêu, nội dung hoạt động và các biện pháp lớn nhỏ nhằm đưa hệ thống đến trạng thái mong muốn.
Có 3 nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá: - Xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Xác định và đảm bảo về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu. - Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó. * Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
Nếu người quản lý biết cách tổ chức có hiệu quả, có khoa học thì sẽ phát huy được sức mạnh của tập thể. Lê Nin đã khẳng định: “Liệu một trăm có mạnh hơn một ngàn hay không? Có chứ! Khi mà một trăm được tổ chức lại. Tổ chức sẽ nhân sức mạnh lên mười lần” * Chức năng chỉ đạo: Là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch, là phương thức tác động của chủ thể quản lý, điều hành mọi việc nhằm đảm bảo cho hệ vận hành thuận lợi. Chỉ đạo là biến mục tiêu quản lý thành kết quả, biến kế hoạch thành hiện thực.
* Chức năng kiểm tra: Đây là giai đoạn cuối cùng của chu kỳ quản lý. Giai đoạn này làm nhiệm vụ là đánh giá, kiểm tra, tư vấn, uốn nắn, sửa chữa và bổ sung, điều chỉnh chuẩn bị cho việc lập kế hoạch tiếp theo. Môi trường bên ngoài Kế hoạch hóa Tổ chức Kiểm tra Lãnh đạo Sơ đồ 1.1: Chức năng của quá trình quản lý 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các chức năng trên diễn ra tuần hoàn theo một chu trình chặt chẽ. Các chức năng kế tiếp và độc lập với nhau nhưng tùy theo nội dung, thời điểm, một số chức năng có thể tiến hành đồng thời, xen kẽ nhau.
Bản chất của hoạt động quản lý: Quản lý về bản chất bao gồm quá trình “quản” và quá trình “lý”. Xét về ý nghĩa kinh tế - xã hội thì hoạt động quản lý bao gồm hai mặt gắn bó với nhau: Quản và Lý. Quản là coi sóc giữ gìn: duy trì sự ổn định của hệ. Lý là sửa sang, sắp xếp: đổi mới tạo ra sự phát triển của hệ.
Hệ ổn định mà không phát triển tất yếu hệ sẽ suy thoái. Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu sẽ dẫn đến rối ren. Quản lý nhằm ngăn chặn mọi sự suy thoái và rối ren. Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ, tuy nhiên nếu chỉ quan tâm tới việc “lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt nên tảng của sự ổn định, thì sự phát triển của tổ chức không bền vững.
Trong “quản” phải có “lý” trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động, hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong với các nhân tố bên ngoài. Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền. Biểu hiện cụ thể qua việc lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát. Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động nào đó; điều tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận.
Quản lý là một hệ thống mở mà bản chất của nó là sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý. Hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi… chúng là những mặt đối lập trong một hệ thống nhất. Đó là biện chứng và bản chất của hoạt động quản lý”. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.
Quản lý mang tính khoa học vì các hoạt động quản lý có tổ chức, có định hướng đều dựa trên những quy luật, nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể. Tính nghệ thuật của quản lý thể hiện ở chỗ nó là hoạt động đặc biệt đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện cụ thể trong sự tác động và kết hợp nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội. Quản lý giáo dục Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người. Giáo dục được thực hiện một cách tự giác, vượt trên các hoạt động tập tính của các loài động vật khác.
Đầu những năm 50 của thế kỷ 20, đã xuất hiện những công trình nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của vấn để quản lý giáo dục tại Liên Xô (trước đây). Một nhà sư phạm của Liên Xô (trước đây), A.Pôpốp đã cho ra mắt cuốn sách “Quản lý trường học” mang tính chỉ dẫn cho các hoạt động thực tiễn đối với người thực hiện công tác quản lý giáo dục.Trong những năm gần đây, rất nhiều tài liệu, sách báo, tạp chí nghiên cứu về quản lý giáo dục đã được xuất bản và điển hình trong số đó là công trình “Quản lý giáo dục - Lý thuyết, nghiên cứu và thực tiễn” của Wayne K.Hoi và Cecil G. Ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện đưa các tính chất nhà trường mà điểm tập trung nhất là các hoạt động trực tiếp phục vụ dạy và học để đạt tới mục tiêu đã định. Quản lý giáo dục góp phần trực tiếp vào quá trình dạy và học, làm quá trình này được thực hiện một cách đầy đủ, chặt chẽ, đồng bộ, đạt hiệu quả ngày càng cao hơn.
Quản lý giáo dục có hai nội dung chính: Quản lý nhà nước về giáo dục; quản lý nhà trường và các cơ sở giáo dục khác.