phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trƣờng Trung học cơ sở Chƣơng 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trƣờng Trung học cơ sở ở huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng. Chƣơng 3: Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý ở trƣờng Trung học cơ sở ở huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng đến năm 2020. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Vài nét lịch sử nghiên cứu vấn đề Cuối thế kỷ XVIII, Robert Owen (1771-1858), Charles Babbage (1792-1871) và Andrew Ure (1778-1875) ở Phƣơng Tây đã đƣa ra ý tƣởng: muốn tăng năng suất lao động, cần tập trung giải quyết một số yếu tố chủ yếu nhƣ phúc lợi, giám sát công nhân, mối quan hệ giữa ngƣời quản lý đối với ngƣời bị quản lý. Tiếp đó FredrickWinslow Taylor (1856-1915) với bốn nguyên tắc quản lý khoa học, đã đề cập tới nâng cao chất lƣợng của ngƣời quản lý [14, tr. Tại Pháp, Henri Fayol (1841-1915) đã đƣa ra 5 chức năng cơ bản của quản lý hành chính. Theo ông, nếu ngƣời quản lý có đủ phẩm chất và năng lực kết hợp nhuần nhuyễn với các chức năng, các quy tắc và nguyên tắc quản lý thì thực hiện đƣợc mục tiêu quản lý và dẫn đến thực hiện mục tiêu của tổ chức [14, tr.
Đến những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, khi các khái niệm “vốn con ngƣời” (Human Capital), “nguồn lực con ngƣời” (Human Resources) xuất hiện ở Hoa Kỳ và sau đó thịnh hành trên thế giới thì vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý cũng đƣợc giải quyết với tƣ cách là phát triển một nguồn lực của một ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, nội dung và cách giải quyết vấn đề có sự khác nhau ở nhiều mức độ và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thực tế ở mỗi quốc gia và mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Vào thập niên 70-80 của thế kỷ XX, một trƣờng phải tiếp cận về quản lý trên cơ sở xem xét những yếu tố văn hoá đã xuất hiện trong đo có nêu những nét văn hoá quản lý vừa thể hiện ở phẩm chất vừa thể hiện ở năng lực ngƣời quản lý. Cũng trong thời kỳ này, việc nghiên cứu quản lý trên cơ sở xem xét tổng thể, thì lý thuyết sơ đồ 7S: Structure (cơ cấu), Strategy (chiến lƣợc), Skills (các kỹ năng), Style (phong cách), System (hệ thống) và Shared value (các giá trị chung) và đặc biệt là Staff (đội ngũ) đã xuất hiện.
Khi phân tích về đội ngũ ngƣời đọc thấy đƣợc giá trị về chất lƣợng đội ngũ quản lý trong việc đạt tới mục tiêu của tổ chức [12, tr. Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận cũng nhƣ các giải pháp phát triển giáo dục. Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 nêu bảy 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhóm giải pháp phát triển giáo dục “Trong đó, đổi mới chương trình giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo là giải pháp trọng tâm; đổi mới quản lý giáo dục là khâu đột phá”. Cuốn sách “Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI Chiến lược phát triển” của Đặng Bá Lãm đã có những phân tích khá sâu sắc về giải pháp quản lý giáo dục [21, tr.283] đã trình bày quan điểm, mục tiêu và biện pháp phát triển giáo dục và hệ thống giáo dục, làm rõ thêm nhận thức về chiến lƣợc phát triển giáo dục, ngoài ra còn nhiều tài liệu khác đề cập đến vấn đề này Nghiên cứu về phát triển đội ngũ CBQL nhà trƣờng ở các địa phƣơng đã có một số công trình nghiên cứu nhƣ sau: + Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục về đề tài: "Thực trạng, phương hướng và những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý giáo dục trường trung học cơ sở tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Nguyễn Công Duật (2000).
Nhằm nghiên cứu, đề xuất các giải pháp quản lý để nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở các trƣờng còn có một số công trình nghiên cứu nhƣ sau: + Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục với đề tài: “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường trung học cơ sở của huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Phƣơng Lan (2008). + Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục với đề tài: "Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Quý Cao (2010). Các nghiên cứu và một sồ đề tài trên đã đề cập vấn đề giải pháp nâng cao chất lƣợng quản lý giáo dục, cụ thể là nâng cao chất lƣợng đội ngũ quản lý giáo dục trƣờng học. Các kết quả nghiên cứu trên để phát triển đội ngũ cán bộ quản lý ở trƣờng THCS có thể tham khảo cho phát triển đội ngũ CBQL trƣờng THCS huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng nhƣng do đặc điểm của địa phƣơng về phát triển KT-XH và đặc biệt là phát triển giáo dục của huyện Vĩnh Bảo nên không thể rập khuôn những nội dung của địa phƣơng này cho địa phƣơng khác mà cần có nghiên cứu chuyên biệt.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số khái niêm ̣ cơ bản của đề tài 1. Quản lý Trong nghiên cứu khoa học có rất nhiều quan niệm về quản lý, theo những cách tiếp cận khác nhau. Quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra theo góc độ tổ chức.
Theo góc độ điều khiển thì quản lý là lái, là điều khiển, điều chỉnh. Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con ngƣời trong quá trình sản xuất để đạt đƣợc mục đích đã định. Quản lý là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp nỗ lực hoạt động của cá nhân nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội con ngƣời muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào nỗ lực của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức.
Theo Các Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trƣởng” Theo quan điểm này thì trong quá trình lao động con ngƣời phải có sự phân công, hợp tác với nhau, sự tổ chức phân công lao động đó chính là một chức năng quản lý, nhƣ vậy quản lý là một chức năng xã hội, xuất hiện và phát triển cùng với xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt 1998: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”. Henry Fayon (1841-1925), ngƣời đặt nền móng cho lý luận tổ chức cổ điển: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”.Taylor (1856-1915) thì “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phƣơng pháp tốt nhất và rẻ nhất” [14, tr.
Có nhiều cách khác nhau định nghĩa về quản lý, theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là: “Quá trình tác động có chủ hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể (đối tƣợng quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của mình” [12, tr 1]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý là sự cộng tác có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong mỗi tổ chức nhằm làm cho tổ chức hoạt động và đạt đƣợc mục tiêu đặt ra. Quản lý là sự tác động, điều khiển, chỉ huy, hƣớng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời nhằm đạt đƣợc mục đích đề ra. Quản lý còn là một quá trình tác động có mục đích vào hệ thống nhằm làm thay đổi hệ thống, thông qua các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra để thực hiện hoạt động quản lý.
Trong các định nghĩa trên, tuy cách diễn đạt khác nhau nhƣng đều chứa đựng những dấu hiệu chung: Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình, mọi hoạt động xã hội loài ngƣời. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài ngƣời tồn tại và phát triển. Hoạt động quản lý đƣợc tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. Hoạt động quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận gắn bó chặt chẽ với nhau: Chủ thể quản lý và đối tƣợng quản lý.
Yếu tố con ngƣời (ngƣời quản lý và ngƣời bị quản lý) giữ vai trò trung tâm trong hoạt động quản lý. Bản chất của quản lý: Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của ngƣời quản lý (chủ thể quản lý) đến ngƣời bị quản lý (đối tƣợng quản lý) nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung. Trong đó: - Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức - Đối tƣợng quản lý là những con ngƣời cụ thể, nhóm ngƣời… - Nội dung quản lý các yếu tố cần quản lý của đối tƣợng quản lý - Công cụ quản lý là phƣơng tiện tác động của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý nhƣ: mệnh lệnh, quyết định, luật lệ, chính sách… - Phƣơng pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể tới đối tƣợng quản lý. - Mục tiêu của tổ chức đƣợc xác định theo nhiều cách khác nhau, nó có thể do chủ thể quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể và đối tƣợng quản lý.
Quản lý có một số đặc điểm: - Quản lý là một nghệ thuật tác động vào hệ thống; - Quản lý là sự thể hiện tổ hợp các biện pháp nhằm vận hành hệ thống đạt đƣợc mục tiêu đặt ra.