phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường phổ thông dân tộc nội trú Chƣơng 2: Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường Phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang Chƣơng 3: Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường Phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong lao động, đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý., phải có người đứng đầu.
Đây là hoạt động giúp người thủ trưởng phối hợp nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra. Từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng được hình thành như một tất yếu khách quan. Quản lý đã xuất hiện từ lâu và ngày càng được hoàn thiện cùng với lịch sử hình thành và phát triển của loài người. Các tư tưởng quản lý sơ khai xuất phát từ các tư tưởng triết học cổ Hy Lạp và cổ Trung Hoa.
Sự đóng góp của các nhà triết học cổ Hy Lạp tuy còn ít ỏi nhưng đáng ghi nhận: Đó là các tư tưởng của Xôcrát (469-399 Tr. CN), Platôn (427-347 Tr.CN) và Arixtôt (384-322 Tr. Thời Trung Hoa cổ đại đã công nhận các chức năng quản lý đó là: Kế hoạch hóa, tổ chức, tác động, kiểm tra. Các nhà hiền triết của Trung Hoa trước công nguyên đã có những đóng góp lớn về tư tưởng quản lý quan trọng về tư tưởng quản lý vĩ mô, quản lý toàn xã hội.
Các nhà tư tưởng và chính trị lớn đó là Khổng Tử (551- 478 Tr.CN), Mạnh Tử (372289 Tr.CN), Thương Ưởng (390-338 Tr.CN) đã nêu lên tư tưởng quản lý “Đức trị, Lễ trị” lấy chữ tín làm đầu. Những tư tưởng quản lý trên vẫn có ảnh hưởng khá sâu sắc đến các nước phương đông ngày nay. Ở Việt Nam, khoa học quản lý tuy còn non trẻ, song nó đã có những thành tựu đáng kể, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội trong những 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ điều kiện cụ thể tương ứng với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong lĩnh vực quản lý giáo dục ở Việt Nam những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận cũng như đề ra được các giải pháp quản lý có hiệu quả trong việc phát triển giáo dục và đào tạo ví dụ như; PGS.
TS Nguyễn Ngọc Quang “Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục” đã đề cập đến những khái niệm cơ bản của quản lý, QLGD, các đối tượng của khoa học QLGD; PGS.TS Đặng Bá Lãm - PGS.TS Phạm Thành Nghị “Chính sách và Kế hoạch phát triển trong quản lý giáo dục” đã phân tích khá sâu sắc về lý thuyết và mô hình chính sách, các phương pháp lập kế hoạch giáo dục; GS.TSKH Vũ Ngọc Hải - PGS.TS Trần Khánh Đức “Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ XXI” đã trình bày những quan điểm, mục tiêu, giải pháp phát triển giáo dục và hệ thống giáo dục. Trong các nghiên cứu đề xuất các biện pháp QLGD nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ QLGD tại các trường trung học, góp phần nâng cao hiệu quả QLGD ở địa phương trong giai đoạn đổi mới, đã có một số đề tài nghiên cứu như: - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý chuyên môn của hiệu trưởng các trường THCS các huyện ngoại thành Hải Phòng, của Nguyễn Văn Tiến - năm 2000 - Luận văn thạc sĩ: Thực trạng, phương hướng và những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở tỉnh Bắc Ninh, của Nguyễn Công Duật - năm 2000. - Một số giải pháp bồi dưỡng nâng cao năng lực QL quá trình dạy học của hiệu trưởng trường THCS tỉnh Quảng Ninh, của Hà Văn Cung - năm 2000. Các đề tài trên chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu thực trạng về số lượng, cơ cấu và xây dựng đội ngũ CBQL trường trung học cơ sở trên địa bàn của một địa phương cụ thể, chưa đề cập đến việc phát triển đội ngũ CBQL trường PTDTNT một cách đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về phẩm chất và năng lực đáp 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ ứng được những đổi mới về giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay là vấn đề rất cần thiết ở mỗi địa phương.
Ở tỉnh Tuyên Quang chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào đề cập đến vấn đề phát triển đội ngũ CBQL các trường PTDTNT. Vì vậy, việc nghiên cứu biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang là rất cần thiết 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm quản lý, biện pháp quản lý 1.
Quản lý Có thể hiểu khái niệm quản lý theo nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau. Trong khuôn khổ của luận văn này chúng tôi chỉ đưa ra một số quan điểm chủ yếu sau đây: * Quan điểm của các tác giả nước ngoài về quản lý Các Mác trong bộ Tư bản đã viết: “Bất kỳ lao động nào có tính xã hội và chung trực tiếp, được thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhiều cần tới sự quản lý…. Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”.Afanaxev: “Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta, sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân, thúc đẩy sự tiến bộ của cả xã hội lẫn cá nhân”. “Quản lý là hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất, và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”. Các tác giả nước ngoài định nghĩa về khái niệm quản lý có khác nhau, song có thể nhận thấy một số điểm chung là: quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm, sao cho đem lại hiệu quả nhất và thúc đẩy sự tiến bộ. 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ * Quan điểm của các tác giả trong nước về quản lý Từ điển tiếng Việt định nghĩa quản lý là: Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định.
Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định. [23] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến. [24] Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định”. [22] Tuy có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau, song có thể nói rằng: Quản lý là hệ thống những tác động có chủ định, phù hợp quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của đối tượng quản lý để đạt đến mục tiêu quản lý trong một môi trường luôn biến động.
Biện pháp quản lý Theo Từ điển Tiếng Việt “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [31]. Như vậy, biện pháp là cách làm cụ thể được chủ thể sử dụng trên cơ sở phương pháp đã được xác định. Tính hiệu quả của quản lý phụ thuộc một phần quan trọng vào việc lựa chọn đúng và đáp án linh hoạt nhất các biện pháp quản lý. Biện pháp quản lý chính là những cách thức cụ thể để thực hiện phương pháp quản lý.
Thực tế cho thấy đối tượng quản lý phức tạp, đòi hỏi những biện pháp quản lý cũng rất đa dạng linh hoạt. Hơn nữa giữa các biện pháp quản lý có liên quan chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệ thống các biện pháp giúp cho nhà quản lý thực hiện tốt các phương pháp quản lý của mình, mang lại hiệu quả tối ưu của bộ máy. Khái niệm quản lý trường học * Trường học: Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân, trực tiếp đào tạo, giáo dục nhân cách bằng tổ chức hướng dẫn, truyền thụ 10 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ những tri thức, đạo đức mà nhân loại đã sàng lọc, chiết xuất được cho thế hệ trẻ. Vì vậy, trong bất kỳ xã hội nào hoạt động trung tâm trong các nhà trường là hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục.TS Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội, trong đó diễn ra quá trình đào tạo, giáo dục với sự tương tác của hai nhân tố thầy - trò.
Truờng học là một bộ phận của công đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở” [2,tr. * Quản lý trường học Trong phạm vi nhà trường, hoạt động quản lý bao gồm quản lý hoạt động giáo dục, các đối tượng giáo dục như: Quản lý hoạt động dạy học, hoạt động lao động, hoạt động ngoại khoá, hoạt động xã hội; quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý tài chính, tài sản. Ta cần phân biệt rõ quản lý giáo dục với quản lý nhà trường. Quản lý giáo dục là quản lý một hoạt động, còn quản lý nhà trường là quản lý một thiết chế của hệ thống giáo dục.
Như ta đã biết, quản lý giáo dục bao gồm hai cấp độ: Quản lý cấp vĩ mô và quản lý cấp vi mô.