CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN DỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ NHỎ VÀ VỪA 1. Một số khái niệm và lý luận cơ bản 1. Khái niệm DNNVV ngành Thương mại dịch vụ Cho đến nay chưa có một khái niệm chung về loại hình DNNVV mà tùy thuộc đặc điểm của từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển kinh tế để đưa ra những quy định về DNNVV. Khi định nghĩa về DNNVV, các quốc gia thường căn cứ vào quy mô về vốn của DN, số lao động thường xuyên, tổng doanh thu, tổng tài sản của DN.
Chung quy lại mỗi quốc gia sử dụng những tiêu thức hay có cách kết hợp các tiêu thức khác nhau mà đưa ra định nghĩa riêng về DNNVV. Taị Việt Nam doanh nghiệp thương mại dich vụ nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh thuôc lĩnh vực thương mại, dịch vụ theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) 1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành Thương mại dịch vụ Trên thế giới, không chỉ tiêu chuẩn để phân loại các DN khác nhau mà ngay cả cách phân loại DN cũng khác nhau. Có nước phân thành bốn loại DN như DN nhỏ; DN vừa; DN lớn và DN cực lớn.
Có nước phân loại DN thành: DN cực nhỏ (thường là kinh tế hộ gia đình); DN nhỏ; DN vừa; DN lớn và DN cực lớn. Có nước (như Mỹ) chỉ DNNVV độc lập mới là DNNVV, nhưng cũng có nước tính cả DNNVV là thành viên của các công ty lớn cũng là DNNVV. Hãy xem xét tiêu chí xác định về doanh nghiệp vừa và nhỏ của một số nước trên thế giới để tham khảo. Luan van 5 Hàn Quốc Là một nước công nghiệp trẻ, đạt được nhiều thành công chính là nhờ sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hàn Quốc đã có những đạo luật cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó xác định rõ những tiêu chuẩn để được công nhận là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những tiêu chuẩn đó còn phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động cụ thể như sau. Trong lĩnh vực chế tạo, khai thác, xây dựng: doanh nghiệp có dưới 300 lao động thường xuyên và tổng vốn đầu tư dưới 600.000 USD được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong số này doanh nghiệp nào có dưới 20 lao động được coi là doanh nghiệp nhỏ.
Trong lĩnh vực thương mại: doanh nghiệp có dưới 20 lao động thường xuyên và doanh thu dưới 500.000 USD/năm (nếu là bán lẻ) và dưới 250.000 USD/ năm (nếu là bán buôn) được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong số này doanh nghiệp nào có dưới 5 lao động thưòng xuyên được coi là doanh nghiệp nhỏ. Nhật Bản Là một nước đã tạo nên huyền thoại “thần kỳ” trong phát triển kinh tế vào những năm của thập kỷ 50 đến thập kỷ 70. Từ những năm 60, Nhật Bản có đạo luật cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau: Đối với doanh nghiệp sản xuất: doanh nghiệp có dưới 300 lao động và một khoản tư bản hoá (vốn đầu tư) dưới 100 triệu Yên (tương đương với 1.
000 USD) được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong số này, doanh nghiệp nào có dưới 20 lao động được coi là doanh nghiệp nhỏ. Luan van 6 Đối với doanh nghiệp bán buôn: doanh nghiệp có dưới 100 lao động hoặc có một khoản tư bản hoá dưới 30 triệu Yên (tương đương 100.000 USD) được coi là doanh nghiệp nhỏ. Đối với doanh nghiệp bán lẻ và dịch vụ: doanh nghiệp có dưới 50 lao động hoặc một khoản tư bản hoá dưới 10 triệu yên (tương đương 100.
000 USD) được coi là doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Trong số này, doanh nghiệp nào có dưới 5 lao động được coi là doanh nghiệp nhỏ (những tiêu thức này nay được xác định từ những năm 60, hiên nay vốn đã tăng lên hàng chục lần). Trong khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ, Nhật Bản chỉ quan tâm đến hai tiêu thức là vốn và lao động. Đối với tiêu thức lao động của loại hình doanh nghiệp nhỏ, Nhật Bản quan niệm gần giống với Hàn Quốc, rất thấp so với khu vực châu á.
Phải chăng các nước có tiềm lực kinh tế mạnh, nguồn nhân lực có hạn, họ quan tâm đến tiêu thức vốn đầu tư nhiều hơn. Thái Lan Là một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, họ quan niệm doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 200 lao động, doanh nghiệp nhỏ có dưới 50 lao động. Như vậy Thái Lan chỉ quan tâm đến tiêu thức lao động và cũng không tính đến tính chất đặc thù của nghành kinh tế (tiêu thức này gần giống với Việt Nam). Các nước khác như Phi-lip-pin lại lấy tiêu thức chủ yếu là lao động và giá trị tài sản cố định; In-đô-nê-xi-a lấy tiêu thức vốn bình quân cho một lao động; Trung quốc lại lấy tiêu thức sản lượng đầu tư.
Mỹ lấy tiêu thức lao động, trị số hàng hoá bán ra (doanh thu tiêu thụ) đối với doanh nghiệp bán buôn, dịch vụ, đối với doanh nghiệp sản xuất thì có tính đến yếu tố ngành sản xuất. Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, qui định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi Luan van 7 là Doanh nghiệp vừa. Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đang là vấn đề được Nhà nước quan tâm đặc biệt. Vì sự thành đạt của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của các doanh nghiệp.
Mà trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế thị trường thì doanh nhiệp quy mô vừa và nhỏ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Để xác định chính xác loại hình doanh nghiệp này người ta thường căn cứ vào hai tiêu chí. Nhóm các tiêu chí định tính bao gồm chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, không phức tạp. Nhóm yếu tố này phản ánh đúng bản chất vấn đề nhưng thường khó xác định bởi vậy mà nó mang tính tham khảo, kiểm chứng, ít được sử dụng trong thực tế.
Nhóm tiêu chí định lượng Có thể bao gồm số lao đông định biên, giá trị tài sản, vốn kinh doanh, doanh thu, lợi nhuận, nhóm tiêu chí này mỗi nước sử dụng hoàn toàn không giống nhau, có thể căn cứ vào cả lao động, vốn, doanh thu cũng có thể chỉ căn cứ vào số lao động hoặc vốn kinh doanh. Như vây tiêu chí để xác định doanh nghiệp Thương mại, dịch vụ vừa và nhỏ là Bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp Thương mại, Dịch vụ Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô siêu nhỏ Khu vực Tổng Số lao Số lao Tổng nguồn Số lao động động động nguồn vốn vốn Thương mại 10 người 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 và dịch vụ trở xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến 50 người tỷ đồng 100 người Luan van 8 1. Lợi thế và hạn chế cạnh tranh của DNTMDV nhỏ và vừa 1. Lợi thế Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, sự tồn tại nhiều hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, nhiều loại hình doanh nghiệp với những quy mô, trình độ khác nhau là tất yếu.
Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc điểm riêng, song so với các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV) có những ưu điểm, lợi thế sau: Tận dụng được tất cả các nguồn lực tại chỗ. DNNVV được hình thành và hoạt động phù hợp với nhu cầu thực tế trên mỗi địa bàn, do đó có thể tận dụng được các nguồn lực sẵn có như tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động…với chi phí thấp. Sức sống tự phát và mãnh liệt. Nếu khu vực kinh tế nhà nước được ra đời một cách nhân tạo, bằng sự nỗ lực của nhà nước, thì kinh tế tư nhân, mà đa số là DNNVV, xuất hiện một cách tự nhiên, xuất phát từ chính nhu cầu đa dạng của con người trong nền kinh tế.
Sức sống tự nhiên của DNNVV thể hiện ở khả năng thích ứng cao trong mọi điều kiện. DNNVV có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của các DN lớn, và sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất hoặc các khoảng trống vừa và nhỏ của thị trường. DNNVV đạt được điều này bởi nó rất dễ thành lập. Một ý tưởng có thể nhanh chóng trở thành hiện thực bởi sự gọn nhẹ, nguồn vốn ban đầu ít và bởi chính nguồn vốn đó thuộc sở hữu của bản thân chủ doanh nghiệp.
Ngoài ra, DNNVV ra đời xuất phát từ chính nhu cầu thiết yếu của con người cũng là một trong những nguyên nhân làm cho các biện pháp vùi dập nhằm tiêu nó là khó có thể thực hiện được. Linh hoạt, dễ thích ứng với sự thay đổi của môi trường. Quy mô vừa nhỏ không phải không đem lại cho doanh nghiệp những ưu thế nhất định. Với bộ máy quản lý gọn nhẹ và mối quan hệ trực tiếp với người tiêu dùng và thị Luan van 9 trường đã tạo điều kiện cho các DNNVV trong việc dễ dàng thích ứng với sự thay đổi của thị trường, thể hiện qua khả năng đổi mới sản phẩm khá nhanh trong điều kiện giới hạn về vốn và công nghệ; hoặc có thể điều chỉnh phương án sản xuất kinh doanh một cách nhanh chóng khi thị trường có sự thay đổi.
Ngoài ra, với tính năng động vốn có của nó, DNNVV có thể dễ dàng tiếp cận với thị trường tín dụng không chính thức, nơi diễn ra các hoạt động tín dụng nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, hoặc không chịu sự quản lý giám sát của chính quyền các cấp và trên thực tế, thị trường không chính thức đã trở thành một trong những nguồn huy động vốn chủ yếu của doanh nghiệp. Những hạn chế liên quan đến khả năng cạnh tranh của DNNVV *Thiếu vốn và khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn tài chính Trong kinh doanh, vốn là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào và là công cụ để biến các ý tưởng, dự án sản xuất kinh doanh thành hiện thực. Trong bối cảnh hội nhập, vốn là nhân tố quyết định tới việc tăng năng lực cạnh tranh, là yếu tố sống còn của doanh nghiệp trên thị trường.