CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄNPHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm Căn cứ khoản 7, Điều 4 Luật doanh nghiệp Việt Nam ban hành ngày 26/11/2014 như sau: “ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”[1, tr1]. Doanh nghiệp (DN) là những cơ sở sản xuất kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia.
Từ khái niệm về DN, khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) được thực hiện trên cơ sở các Nghị định của Chính phủ. Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, ngày 30/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về trợ giúp phát triển DNthì khái niệm về Doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”. Tiêu chí xác định Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp (DN) siêu nhỏ là DN có số lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao động. Các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở quan trọng để phân loại doanh nghiệp theo quy mô.
Điều này là hợp lý hơn so với việc lựa chọn 7 các tiêu chí khác như doanh thu, vốn. là các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền tệ.1 Tiêu chí phân loại DNNVV của một số nước trên thế giới Số lao động Quốc gia Phân loại Vốn đầu tư Doanh thu Bình quân Mỹ Tất cả các ngành 500 - - Chế tác 300 <300 triệu yên - Bán buôn 100 100 triệu yên - Nhật Bản Bán lẻ 50 50 triệu yên - Dịch vụ 100 100 triệu yên - DN cực nhỏ <10 - - EU DN nhỏ <0 - 7 triệu ero DN vừa <250 - 40 triệu ero Sản xuất nhỏ - 50 triệu bạt - Sản xuất vừa - 50-200 triệu bạt - Bán buôn nhỏ - 50 triệu bạt - Thái Lan Bán buôn vừa - 50-100 triệu bạt - Bán lẻ nhỏ - 30 triệu bạt - Bán lẻ vừa - 30-60 triệu bạt - Singapore - <100 <1,2 triệu đô la - Nguồn: APEC 1998, UN/EEC 1999 và OECD 2000 Các tiêu chí như doanh thu, vốn tuy rất quan trọng nhưng thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát. nên thiếu sự ổn định trong việc phân loại doanh nghiệp. Điều này giải thích tại sao tiêu chí số lao động bình quân được nhiều quốc gia lựa chọn, tiêu 8 chí này thường có tính ổn định lâu dài về mặt thời gian, lại thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang tham gia.
Ở Việt Nam, sự hình thành quan niệm và phân loại DNNVV rất khác nhau theo sự phát phát triển của đất nước. Căn cứ Điều 4 Luật hỗ trợ DNNVV Việt Nam ban hành ngày 12/6/2017 quy định“Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) bao gồm DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ”.2: Tiêu chí xác định DNNVV ở Việt Nam DN siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Quy mô Tổng Khu vực Số lao Số lao Tổng Số lao nguồn động động nguồn vốn động vốn (người) (người) (Tỷ đồng) (người) (tỷ đồng) từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 I. Nông, lâm nghiệp 10 người 20 tỷ đồng người đến đồng đến người đến và thủy sản trở xuống trở xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 II. Công nghiệp và 10 người 20 tỷ đồng người đến đồng đến người đến xây dựng trở xuống trở xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 III.
Thương mại và 10 người 10 tỷ đồng người đến đồng đến người đến dịch vụ trở xuống trở xuống 50 người 50 tỷ đồng 100 người (Nguồn: Nghị định Số: 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009) 9 Hiện nay, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ thì "DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)” [3, tr1]. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn DNNVV tác giả đã lấy tiêu chí số lao động trong các doanh nghiệp để xác định DNNVV, vì đây là tiêu chí ổn định, có độ chính xác cao nhất và dễ dàng thu thập. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Những đặc điểm mangtính lợi thế DNNVV có những lợi thế là khả năng thoả mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, khuynh hướng sử dụng nhiều lao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là rất linh hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thị trường.
DNNVV có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp lớn (do quy mô doanh nghiệp nhỏ), sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất, những phân khúc vừa và nhỏ trên thị trường mà các doanh nghiệp lớn không đáp ứng vì mối quan tâm của họ đặt ở các thị trường có khối lượng lớn. DNNVV là loại hình sản xuất có tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và địa điểm sản xuất phân tán, có nhiều điểm mạnh: Một là: các DNNVV có tính năng động cao, linh hoạt, dễ thích ứng với các biến động của thị trường. Trong một số trường hợp, DNNVV còn năng động thích ứng nhanh với những biến động về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế của nhà nước. Trong thương mại, nhờ tính linh hoạt, dễ tham gia thị trường, cũng như dễ rút lui khỏi thị trường khi điều kiện kinh doanh không thuận lợi, nên DNNVV dễ dàng tìm kiếm lợi nhuận từ những phân khúc của thị trường, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế.
Hai là:Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là đã có thể bắt đầu hoạt động. Bộ máy tổ chức gọn nhẹ 10 linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định. Vòng quay sản phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có hoặc vay bạn bè, người thân dễ dàng. Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ của nó, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng.
Từ đó doanh nghiệp sẽ tạo ra sự sống động trong phát triển kinhtế. Hiện nay ở Việt Nam, nếu chủ thể nào đó có ý tưởng sản xuất kinh doanh cộng với một số ít vốn, một số lao động nhất định và mặt bằng không lớn là có thể khởi sự được doanh nghiệp. Ba là: DNNVV có một số lợi thế trong việc theo sát nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, qua đó tạo ra nhiều loại sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Có thể nói DNNVV có một số lợi thế trong việc định hướng và làm xuất hiện nhiều nhu cầu mới từ phía người tiêu dùng.
Bốn là:DNNVV có một số lợi thế là lãi suất đầu tư thấp nhờ phát huy các nguồn lực đầu vào tại chỗ như tài nguyên, lao động hay khai thác, nguồn vốn và phát huy các ngành nghề truyền thống của địa phương. Năm là: Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp. Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép. Đồng thời doanh nghiệp tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn.
Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn,sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế. Thực tế ở Việt Nam đã có rất nhiều doanh nghiệp từng bước trưởng thành, lớn mạnh nhờ khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống trong từng hộ gia đình, từng dòng họ, làng nghề của nông thôn Việt Nam. Những đặc điểm mang tính bất lợi Những hạn chế của loại hình doanh nghiệp này đến từ hai nguồn. Một là hạn chế khách quan đến từ thực tế bên ngoài và Hai là hạn chế đến từ chính các lợi thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
11 - Hầu hết những DNNVV có quy mô nhỏ, hoạt động phân tán, thiếu các nguồn lực để tiến hành các dự án đầu tư lớn; khả năng mở rộng thị trường đầu ra, đặc biệt là thị trường quốc tế có nhiều hạn chế; nhiều doanh nghiệp thiếu tính chiến lược và không có kế hoạch dài hạn. Sự liên kết, hợp tác giữa các DNNVV và sự liên kết hợp tác theo hiệp hội ngành hàng, theo địa bàn không bền vững. - Thiết bị - Công nghệ của DNNVV thường ở mức dưới trung bình, đặc biệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường.