phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục luận văn gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh Thái Nguyên Chƣơng 4: Một số giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh Thái Nguyên 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Cho đến nay, ở nƣớc ta vẫn còn nhiều khái niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các khái niệm đƣợc sử dụng trên thực tế hiện nay chỉ là khái niệm của các ngành, địa phƣơng, tổ chức đƣa ra nhằm phục vụ cho mục đích của mình. Trong số các khái niệm về DNN&V hiện nay ở nƣớc ta tồn tại một số khái niệm trong đó: Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ phát biểu nhƣ sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam là các chủ thể sản xuất kinh doanh được thành lập theo các qui định của pháp luật có qui mô về vốn và / hoặc số lao động phù hợp với qui định của Chính phủ” Theo khái niệm này thì DNN&V ở Việt Nam không phân biệt thành phần kinh tế, bao gồm: - Các doanh nghiệp có qui mô nhỏ và vừa đƣợc thành lập và đăng ký theo Luật Doanh nghiệp. - Các hợp tác xã có qui mô nhỏ và vừa đƣợc thành lập và đăng ký hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
Căn cứ, Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về “Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Tại điều 3 của Nghị định đã định nghĩa: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Cũng tại Nghị định này, đối tƣợng các DNN&V đƣợc cụ thể hóa, bao gồm: - Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; - Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã; - Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về Đăng ký kinh doanh. Khái niệm mới nhất về doanh nghiệp nhỏ và vừa nhƣ sau: 6 Căn cứ Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về Định nghĩa Doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc hiểu nhƣ sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên), cụ thể nhƣ sau: Bảng 1.1: Tiêu chuẩn doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam Từ khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa trên ta có phân tích cụ thể khái niệm với các lĩnh vực nhƣ sau: - Thứ nhất, lĩnh vực Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản; Công nghiệp và Xây dựng “Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản; Công nghiệp và Xây dựng là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo qui định pháp luật hiện hành có vốn đăng ký không quá 20 tỷ đồng đối với doanh nghiệp nhỏ và 100 tỷ đồng đối với doanh nghiệp vừa hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 200 người đối với doanh nghiệp nhỏ và 300 người đối với doanh nghiệp vừa” - Thứ hai, lĩnh vực Thƣơng mại và Dịch vụ : “Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực Thương mại và dịch vụ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo qui định pháp luật hiện hành có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng đối với doanh nghiệp nhỏ và 50 tỷ đồng đối với doanh 7 nghiệp vừa hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 50 người đối với doanh nghiệp nhỏ và 100 người đối với doanh nghiệp vừa” 1.2 Đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa Do việc thành lập các doanh nghiệp nhỏ và vừa tƣơng đối dễ dàng cho nên trong trong những năm gần đây đã ra đời rất nhiều loại hình doanh nghiệp này, các doanh nghiệp nhỏ và vừa với những ƣu thế về việc kinh doanh không đòi hỏi nhiều vốn quá, lại thu hút đƣợc lƣợng lao động rất lớn.
Hơn nữa việc các doanh nghiệp này kinh doanh chủ yếu những mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống cho nên không đòi hỏi phải đầu tƣ công nghệ kỹ thuật máy móc nhiều mà thay vào đó là sử dụng lƣợng lao động với giá rẻ càng làm cho việc kinh doanh của các doanh nghiệp này tƣơng đối dễ dàng và thông thoáng. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất nhạy cảm với những thay đổi trong kinh doanh nhanh chóng nắm bắt các cơ hội kinh doanh mỗi khi có thể. Một yếu tố nữa là do bộ máy tổ chức của các doanh nghiệp này tƣơng đối gọn nhẹ cho nên mỗi khi ra các quyết định kinh doanh thƣờng rất nhanh. Tuy nhiên cũng do thiếu vốn cho nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng thƣờng bị mất di các cơ hội kinh doanh.
Các doanh nghiệp cũng nghĩ tới việc vay ngân hàng nhƣng đợi cho tới khi ngân hàng cho vay vốn thì các cơ hội kinh doanh cũng đã qua đi do các thủ tục ngân hàng còn phức tạp chƣa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp. Trình độ lao động thấp, phƣơng tiện kỹ thuật lạc hậu, trình độ quản lý chất lƣợng sản phẩm kinh doanh thấp cũng là những yếu tố làm cho sản phẩm của các doanh nghiệp này thƣờng bị coi là kém chất lƣợng và làm ảnh hƣởng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.3 Tính tất yếu khách quan của sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Lịch sử ra đời và phát triển nền sản xuất hàng hoá gắn liền với sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp. Giai đoạn tiền sử (C. Mác gọi là sản xuất hàng hoá giản đơn) không có sự phân biệt giữa giới chủ và ngƣời thợ.
Ngƣời sản xuất hàng hoá là ngƣời sở hữu các tƣ liệu sản xuất, vừa là ngƣời lao động trực tiếp, vừa là ngƣời điều khiển (quản lý) công việc của mình (của gia đình), vừa là ngƣời trực tiếp mang sản phẩm của mình ra trao đổi trên thị trƣờng. Đó là loại doanh nghiệp cá thể, doanh nghiệp gia đình, còn gọi là doanh nghiệp cực nhỏ. Trong thời kì hiện đại, 8 thông thƣờng đại đa số những ngƣời khi mới trƣởng thành để làm việc đƣợc, đều muốn thử sức mình trong nghề kinh doanh. Với số vốn ít trong tay, với một trình độ tri thức nhất định lĩnh hội đƣợc trong các trƣờng chuyên nghiệp, bắt đầu khởi nghiệp, phần lớn họ đều thành lập doanh nghiệp nhỏ chỉ của riêng mình, tự sản xuất- kinh doanh.
Trong sản xuất kinh doanh có một số ngƣời gặp vận may và đặc biệt là nhờ tài ba, biết chớp thời cơ, có sáng kiến cải tiến kĩ thuật, khéo điều hành và tổ chức sắp xếp công việc, cần cù, chịu khó, tiết kiệm.đã thành đạt, ngày càng giàu lên, tích luỹ đƣợc nhiều của cải, tiền vốn thƣờng xuyên mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh, đến một giai đoạn nào đó lực lƣợng lao động của gia đình không đảm đƣơng hết công việc cần phải thuê ngƣời làm và trở thành ông chủ. Ngƣợc lại, một bộ phận lớn ngƣời sản xuất hàng hoá khác, hoặc do không gặp vận may, hoặc do kém cỏi không biết chớp thời cơ, không biết sáng kiến cải tiến kĩ thuật hoặc thiếu cần cù chịu khó.đã dẫn đến thua lỗ triền miên, buộc phải bán tƣ liệu sản xuất đi làm thuê cho ngƣời khác. Những giai đoạn đầu các ông chủ và những ngƣời thợ cùng trực tiếp lao động với nhau và ngƣời thợ làm thuê thƣờng là bà con họ hàng và láng giềng của ông chủ, về sau mở rộng ra đến những ngƣời ở xa đến. Các nhà nghiên cứu thƣờng xếp những loại doanh nghiệp này vào phạm trù doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, một số ngƣời thành đạt đã phát triển doanh nghiệp của mình bằng cách mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh, và nhƣ vậy nhu cầu về vốn đòi hỏi nhiều hơn. Nhu cầu về vốn sẽ ngày càng tăng, nhằm nâng cao công suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh đã thôi thúc các nhà doanh nghiệp hoặc là một số ngƣời góp vốn thành lập xí nghiệp liên doanh (xí nghiệp chung vốn), hoặc phát hành cổ phiếu thành lập công ty cổ phần. Bằng hình thức liên kết ngang, dọc hoặc hỗn hợp nhiều tập đoàn kinh tế, nhiều doanh nghiệp lớn hình thành và phát triển. Nền kinh tế của một quốc gia là do tổng thể các doanh nghiệp lớn, bé tạo thành.
Phần đông các doanh nghiệp lớn trƣởng thành, phát triển từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua liên kết với các doanh nghiệp nhỏ và vừa khác. Qui luật đi từ nhỏ đến lớn là con đƣờng tất yếu của sự phát triển bền vững mang tính phổ biến của 9 đại đa số các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng. Đồng thời, sự tồn tại đan xen và kết hợp các loại qui mô doanh nghiệp làm cho nền kinh tế của mỗi nƣớc khắc phục đƣợc tính đơn điệu, sơ cứng tạo nên tính đa dạng, phong phú linh hoạt vừa đáp ứng các xu hƣớng phát triển đi lên lẫn những biến đổi nhanh chóng của thị trƣờng trong điều kiện của cuộc cách mạng Khoa học - Công nghệ hiện đại đảm bảo tính hiệu quả chung của toàn nền kinh tế. Để phát triển nền kinh tế theo hƣớng công nghiệp hoá, hiện đại hóa không thể không có các doanh nghiệp qui mô lớn, vốn nhiều, kĩ thuật hiện đại làm nòng cốt trong từng ngành, nhằm tạo ra sức mạnh để cạnh tranh trên thị trƣờng quốc tế.
Ngoài việc xây đựng doanh nghiệp qui mô lớn cần thiết, chúng ta còn thực hiện các biện pháp tăng khả năng tích tụ và tập trung của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo điều kiện cho chúng nhanh chóng vƣơn lên trở thành các doanh nghiệp lớn. Sự kết hợp các loại qui mô doanh nghiệp trong từng ngành cũng nhƣ trong toàn nền kinh tế, trong đó nhấn mạnh đến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là phù hợp với xu thế chung và thích hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở nƣớc ta hiện nay.