đặt vấn đề, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục thì nội dung của đề tài gồm 03 chương. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thực trạng phát triển DNNVV trên địa bàn huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển DNNVV trên địa bàn huyện Tuyên Hóa - tỉnh Quảng Bình.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Cơ sở lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) 1. Khái niệm, nội dung và tiêu chí xác định DNNVV 1. Khái niệm DNNVV Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường được hiểu là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia. Ở Việt Nam, ngày 26/8/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 80/2021/NĐ-CP. Nghị định đã đưa ra một định nghĩa chung về DNNVV để các ban ngành, địa phương, các tổ chức trong và ngoài nước có căn cứ xác định đối tượng thực hiện chính sách và các biện pháp trợ giúp DNNVV phát triển.
Theo đó, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm[1]. Nội dung phát triển DNNVV Sự phát triển của DNNVV được thực hiện trực tiếp bởi các chủ thể kinh doanh nhỏ và vừa. Để phát triển DN của mình các chủ DN phải tìm mọi cách để có được các nguồn lực cần thiết cho phát triển kinh doanh, cố gắng tổ chức quá trình kinh doanh hợp lý, hiệu quả dựa vào những điều kiện hiện có, năng lực kinh doanh, tình hình thị trường, phân phối thu nhập đảm bảo yêu cầu tích lũy… Đó là những nội dung cần thực hiện đối với từng DN nói chung và DNNVV nói riêng, xuất phát từ những tất yếu kinh tế của quá trình tái sản xuất cá biệt trong các ngành kinh tế hoặc là sản xuất những sản phẩm nào đó. Tuy nhiên do những đặc điểm thể hiện 5 --- hạn chế của DNNVV, để thúc đẩy sự phát triển của DNNVV cho đúng hướng và hiệu quà thì cần tới vai trò quản lý, hỗ trợ của Nhà nước.
Vì vậy, có thể hiểu phát triển DNNVV không những là hoạt động của bản thân các DN đó mà còn là hoạt động của Nhà nước cần chú trọng. Xét theo phương diện quản lý Nhà nước đối với DN, những nội dung cơ bản của phát triển DNNVV bao gồm: Thứ nhất, ban hành pháp luật chính sách phát triển DNNVV với tư cách là chủ thể hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, DNNVV hoạt động vì lợi ích kinh tế, vì vậy rất cần có khung khổ pháp lý đầy đủ, đồng bộ, nhất quán, rõ ràng để yên tâm, hăng hái đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Nhà nước cần đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh, bình đẳng trong kinh doanh cũng như bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ bằng cách thể chế hóa bằng pháp luật, xây dựng, ban hành và thực thi hệ thống pháp luật đồng bộ, nhất quán, có hiệu quả cao đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các DNNVV so với các chủ thể kinh tế khác. Để thực thi pháp luật, Nhà nước cần có những cơ quan thi hành pháp luật các cấp từ trung ương đến địa phương có năng lực phổ biến và hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp luật về doanh nghiệp tại các địa bàn hoặc lĩnh vực nào đó cụ thể và văn bản pháp luật có liên quan cho DNNVV.
Để tạo thuận lợi cho DNNVV phát triển và đóng góp ngày càng tăng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của cả quốc gia nói chung và trên địa bàn từng địa phương nói riêng, trong điều kiện các DNNVV là trọng tâm nền kinh tế nhưng có nhiều hạn chế về vốn, nhân lực, kinh nghiệm kinh doanh, thị trường… Nhà nước cần có hệ thống các chính sách hỗ trợ phù hợp như chính sách tài chính, chính sách tín dụng ưu đãi, chính sách đất đai, hỗ trợ về khoa học - công nghệ, đào tạo nhân lực, xúc tiến mở rộng thị trường… đặc biệt đối với những ngành nghề cần định hướng phát triển. Thứ hai, xây dựng kế hoạch phát triển DNNVV cần phải được xây dựng thành những kế hoạch cụ thể cả trong dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Kế hoạch dài hạn cần thể hiện rõ mục tiêu định hướng phát triển DNNVV, nhưng đó cũng là một trong những phương diện định hướng phát triển kinh tế - xã hội, do đó phải phù hợp với định hướng chung về phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời phải phát huy được 6 --- những tiềm năng, lợi thế của DNNVV cho phát triển. Để định hướng phát triển DNNVV, Nhà nước cần nghiên cứu đánh giá đúng đắn tình hình phát triển của DNNVV, dự báo được xu thế phát triển DNNVV trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, trên cơ sở đó xây dựng và thực thi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển DNNVV trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Chiến lược phát triển DNNVV phải có mục tiêu, quan điểm và các giải pháp mang tính dài hạn với tầm nhìn xa, phù hợp với sự phát triển của các ngành nghề kinh tế gắn với sự phát triển chung của nền kinh tế. Quy hoạch phát triển DNNVV phải thể hiện rõ định hướng về quy mô, giới hạn phạm vi của sự phát triển DNNVV theo ngành, lĩnh vực và địa bàn, là bước cụ thể hóa của chiến lược phát triển DNNVV. Thứ ba, xây dựng cơ cấu bộ máy thực hiện kế hoạch phát triển DNNVV. Để thực hiện hiệu quả kế hoạch phát triển DNNVV, nhà nước cần tổ chức bộ máy quản lý và thực hiện phù hợp, trong đó cần phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương trong tổ chức thực hiện kế hoạch.
Về phía các cơ quan trung ương sau khi xây dựng kế hoạch phát triển DNNVV cần có sự phân công rõ trách nhiệm của từng ban, ngành trong việc hướng dẫn thực hiện kế hoạch, tổ chức tập huấn nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác trợ giúp DNNVV, hướng dẫn xây dựng và nâng cao năng lực cho hệ thống trợ giúp phát triển DNNVV. Thứ tư, kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động kinh doanh của DNNVV. Do mục tiêu lợi ích kinh tế và trình độ hiểu biết, tuân thủ pháp luật hạn chế, không ít các chủ DNNVV có các hành vi vi phạm pháp luật như lập hồ sơ giả để trốn, lậu thuế, kinh doanh hàng giả, hàng hóa và dịch vụ kém chất lượng, kinh doanh trên các địa bàn trái quy hoạch… Do đó các cơ quan quản lý Nhà nước cần thường xuyên tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động kinh doanh của các DNNVV nhằm đảo bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, nâng cao trình độ tuân thủ pháp luật kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện kịp thời phát hiện và xử lý các sai sót, những khó khăn phát sinh trong quá trình phát triển DNNVV. Tiêu chí xác định DNNVV Theo tiêu chí của NhómNgân hàng Thế giới, DN siêu nhỏ là DN có số lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn DN vừa có từ 200 đến 300 lao động và nguồn vốn từ 20 đến 100 tỷ.
Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định DNNVV. ỞViệt Nam, nhìn chung đều dựa vào hai tiêu chí chủ yếu là số lượng lao động và tổng vốn đầu tư để xác định loại hình DNNVV. Nhưng ở mỗi nước, mức độ định lượng rất khác nhau.1: Tiêu chí phân loại DNNVV ở một số quốc gia Tên nước Phân loại Số lao động Số vốn Doanh thu Mỹ Tất cả các ngành 500 - - Chế tác 300 <300 triệu yên - Bán buôn 100 100 triệu yên - Nhật Bản Bán lẻ 50 50 triệu yên - Dịch vụ 100 100 triệu yên - DN cực nhỏ < 10 - - EU DN nhỏ <50 - 7 triệu ero DN vừa < 250 - 40 triệu ero Sản xuất nhỏ - 50 triệu bạt - Sản xuất vừa - 50-200 triệu bạt - Bán buôn nhỏ - 50 triệu bạt - Thái Lan Bán buôn vừa - 50-100 triệu bạt - Bán lẻ nhỏ - 30 triệu bạt - Bán lẻ vừa - 30-60 triệu bạt - Singapore - <100 < 1,2 triệu đô la - Nguồn: APEC 1998 và OECD 2000 Ở Việt Nam, sự hình thành quan niệm và cách phân loại DNNVV cũng rất khác nhau qua các thời kỳ phát triển của đất nước. 8 --- Trước năm 1998, Nhà nước chưa có văn bản pháp luật nào quy định tiêu chí cụ thể về DNNVV.
Do đó, mỗi tổ chức, mỗi địa phương đưa ra một quan niệm khác nhau về DNNVV, nhằm định hướng mục tiêu và đối tượng hỗ trợ của tổ chức, địa phương mình. Ví dụ: - Ngân hàng Công thương đưa ra tiêu chí DNNVV là những doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng, doanh thu dưới 8 tỷ đồng và số lao động thường xuyên dưới 500 người. - Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) tại Việt Nam lại đưa ra tiêu thức xác định DNNVV dựa trên mục tiêu hỗ trợ: Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có ít hơn 50 lao động, tổng số vốn và doanh thu ít hơn 1 tỷ đồng; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao động thường xuyên từ 51 đến 200 người, tổng số vốn và doanh thu từ 1 tỷ đến 5 tỷ đồng. Hiện nay, luật Doanh nghiệp 2020quy định các loại hình doanh nghiệp ở nước ta gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty cổ phần; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp Nhà nước.
Tiêu chí DNNVV được xác định như sau: Bảng 1.