Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp, đóng góp trên 40% GDP và giải quyết việc làm cho 51% lực lượng lao động xã hội. Tại địa bàn huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình – địa phương sở hữu 447,88 km² diện tích tự nhiên cùng dân số 106.472 người vào năm 2016, việc phát triển các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ được xác định là đòn bẩy chiến lược nhằm khai thác tiềm năng kinh tế biển, hành lang kinh tế Đông - Tây và hệ thống hạ tầng trọng điểm như Cảng biển nước sâu Hòn La. Mặc dù tổng giá trị sản xuất toàn huyện giai đoạn 2014 - 2016 duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 9,85%/năm, năng lực cạnh tranh và quy mô vận hành của khối doanh nghiệp này vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng về vốn, công nghệ và trình độ quản trị.

Đề tài tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường, đồng thời khảo sát, đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng tại huyện Quảng Trạch xuyên suốt giai đoạn 2012 - 2016. Trên cơ sở nhận diện các rào cản nội tại và biến động từ môi trường kinh doanh bên ngoài, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng thực tiễn cao cho giai đoạn tiếp theo. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 18 xã thuộc huyện Quảng Trạch với trọng tâm là các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học thực chứng, hỗ trợ chính quyền địa phương hoàn thiện cơ chế điều hành, hướng tới mục tiêu tăng trưởng số lượng doanh nghiệp trên 10%/năm và nâng cao năng suất lao động cho hơn 60.660 người trong độ tuổi lao động tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng quan điểm duy vật biện chứng của Triết học Mác - Lênin về quy luật phát triển, coi phát triển kinh tế là quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao thông qua sự tích lũy về lượng dẫn đến biến đổi về chất. Quá trình phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa không đơn thuần là sự gia tăng số học về số lượng cơ sở kinh doanh, quy mô vốn hay lực lượng lao động, mà còn bao hàm sự hoàn thiện cơ cấu ngành nghề, nâng cao hiệu quả sinh lời trên từng đồng vốn và cải thiện năng suất lao động.

Khung pháp lý nền tảng của nghiên cứu dựa trên Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, kết hợp tiêu chí phân loại của Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO). Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa gồm:

  • Quy mô doanh nghiệp: Xác định theo tiêu chí số lượng lao động bình quân năm (dưới 10 người đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người đối với doanh nghiệp nhỏ) và tổng nguồn vốn đăng ký kinh doanh (dưới 20 tỷ đồng cho ngành công nghiệp - xây dựng, dưới 10 tỷ đồng cho ngành thương mại - dịch vụ).
  • Hiệu quả hoạt động: Đo lường qua tỷ suất sinh lời trên doanh thu, lợi nhuận trên vốn và giá trị gia tăng tạo ra trên mỗi lao động.
  • Nhân tố tác động: Phân định thành môi trường bên ngoài (chính sách thuế, lãi suất, cơ sở hạ tầng giao thông, rủi ro thiên tai ven biển) và năng lực bên trong (tiềm lực tài chính, trình độ nhân sự, công nghệ thiết bị và mạng lưới phân phối).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Niên giám Thống kê tỉnh Quảng Bình, Niên giám Thống kê huyện Quảng Trạch, báo cáo điều tra doanh nghiệp hàng năm của Cục Thống kê tỉnh Quảng Bình và các số liệu chuyên ngành từ Sở Kế hoạch và Đầu tư giai đoạn 2012 - 2016.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thực hiện khảo sát điều tra thực tế trong năm 2017 với quy mô mẫu là 81 doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn huyện. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng theo ngành nghề kinh doanh, bao gồm 2 doanh nghiệp nông - lâm - thủy sản, 31 doanh nghiệp công nghiệp - xây dựng và 48 doanh nghiệp thương mại - dịch vụ. Cơ cấu đối tượng phỏng vấn gồm 8 giám đốc/phó giám đốc, 24 trưởng/phó phòng chuyên môn và 49 nhân viên trực tiếp.

Hệ thống công cụ phân tích bao gồm phần mềm thống kê chuyên dụng SPSS và Microsoft Excel. Phương pháp phân tổ thống kê và phân tích chuỗi thời gian (tính toán lượng tăng giảm tuyệt đối, tốc độ phát triển định gốc và tốc độ phát triển bình quân) được lựa chọn nhằm mô tả rõ nét xu hướng biến động của các chỉ tiêu vốn, lao động, doanh thu và lợi nhuận. Kiểm định phân tích phương sai (ANOVA) được sử dụng để kiểm tra mức độ khác biệt có ý nghĩa thống kê trong đánh giá của các nhóm chuyên gia và nhà quản lý về mức độ ảnh hưởng của các rào cản thể chế, tiếp cận đất đai và tín dụng đến sự phát triển của doanh nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực tế tại huyện Quảng Trạch giai đoạn 2012 - 2016 làm nổi bật bốn phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, số lượng doanh nghiệp tăng trưởng ở mức khá nhưng cơ cấu ngành nghề còn mất cân đối nghiêm trọng. Tổng số doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng từ 100 đơn vị năm 2012 lên 142 đơn vị năm 2016, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 9,2%/năm. Loại hình Công ty TNHH chiếm tỷ trọng áp đảo, tăng từ 57 doanh nghiệp (chiếm 57,0%) lên 100 doanh nghiệp (chiếm 70,4%), với tốc độ phát triển 15,1%/năm. Ngược lại, khối Hợp tác xã sụt giảm mạnh từ 14 cơ sở (14,0%) xuống còn 6 cơ sở (4,2%). Theo ngành nghề, lĩnh vực thương mại - dịch vụ tăng nhanh nhất với mức tăng 14,2%/năm, nâng quy mô từ 50 đơn vị (50,0%) lên 85 đơn vị (59,9%), trong khi ngành nông - lâm - thủy sản chỉ chiếm vỏn vẹn 1,4% tổng số doanh nghiệp (2 đơn vị) vào năm 2016.

Thứ hai, quy mô vốn đầu tư có sự mở rộng nhưng đại bộ phận vẫn thuộc nhóm siêu nhỏ. Nhóm doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm tỷ trọng cao nhất, từ 30 doanh nghiệp (30,0%) năm 2012 tăng lên 45 doanh nghiệp (31,7%) năm 2016. Mặc dù nhóm có quy mô vốn từ 10 đến dưới 50 tỷ đồng ghi nhận mức tăng trưởng bình quân ấn tượng 22,0%/năm (từ 14 lên 31 doanh nghiệp), số lượng doanh nghiệp có vốn từ 50 tỷ đồng trở lên chỉ đạt 4 cơ sở (chiếm 2,8%). Vốn sản xuất kinh doanh bình quân chung trên một doanh nghiệp còn khiêm tốn, dẫn đầu là khối Công ty Cổ phần với 61,6 tỷ đồng/doanh nghiệp, trong khi các cơ sở nông nghiệp chỉ đạt bình quân 1,17 tỷ đồng/doanh nghiệp năm 2016.

Thứ ba, quy mô và chất lượng lao động bộc lộ nhiều hạn chế lớn. Doanh nghiệp có dưới 10 lao động chiếm tới 58,5% tổng số đơn vị (83 doanh nghiệp) năm 2016, tăng mạnh so với mức 49,0% năm 2012. Số lao động bình quân cho mỗi doanh nghiệp giảm từ 17,9 người xuống 14,6 người. Theo kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế năm 2016, trình độ nhân lực còn rất thấp khi có tới 21,53% lao động chưa qua đào tạo (446 người) và 28,89% chỉ đạt trình độ trung cấp nghề, trong khi tỷ lệ có trình độ đại học chỉ chiếm 18,29% (379 người) và trên đại học chiếm 0,61% (13 người).

Thứ tư, hiệu quả tài chính và khả năng tích lũy lợi nhuận còn thấp. Tỷ lệ doanh nghiệp làm ăn có lãi giảm từ 84,0% năm 2012 xuống 81,0% năm 2016, đồng nghĩa với việc số doanh nghiệp thua lỗ tăng lên 27 đơn vị (chiếm 19,0%). Đáng chú ý, trong nhóm có lãi năm 2016, có tới 82,4% số cơ sở kinh doanh (117 doanh nghiệp) đạt mức lợi nhuận dưới 50 triệu đồng/năm. Các đơn vị đạt lợi nhuận trên 200 triệu đồng chỉ chiếm 2,8% (4 doanh nghiệp).

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bố không gian phản ánh rõ nét sự chênh lệch hạ tầng: các xã ven biển có điều kiện giao thông thuận lợi như Cảnh Dương (18 doanh nghiệp, chiếm 12,7%), Quảng Hưng (18 doanh nghiệp, 12,7%), Quảng Xuân (17 doanh nghiệp, 12,0%) và Quảng Phú (15 doanh nghiệp, 10,6%) tập trung phần lớn lượng doanh nghiệp. Trong khi đó, các xã miền núi, vùng sâu như Phù Hóa, Quảng Thạch, Quảng Tiến chỉ có duy nhất 1 doanh nghiệp hoạt động (chiếm 0,7%).

Sự sụt giảm doanh thu bình quân của ngành thương mại - dịch vụ từ mức 16,66 tỷ đồng năm 2012 xuống 11,98 tỷ đồng năm 2016 (tốc độ giảm 7,9%/năm) phản ánh trực tiếp tổn thương từ sự cố ô nhiễm môi trường biển Formosa năm 2016, khiến ngành du lịch, dịch vụ ăn uống và hậu cần nghề cá ven biển Quảng Trạch chịu thiệt hại nặng nề.

Khi so sánh với kinh nghiệm phát triển tại huyện Thanh Ba (Phú Thọ) hay huyện Yên Dũng (Bắc Giang), điểm nghẽn của Quảng Trạch nằm ở việc chưa tận dụng triệt để quỹ đất sạch tại Khu công nghiệp và Khu kinh tế Hòn La (mới thu hút được 10 doanh nghiệp, chiếm 7,0%). Nhằm hỗ trợ trực quan hóa cho các nhà quản lý, các chuỗi số liệu phân tổ về vốn và chuyển dịch cơ cấu ngành nên được mô hình hóa qua biểu đồ cột chồng kết hợp đồ thị đường thể hiện xu hướng tăng trưởng, đồng thời thiết lập bản đồ GIS định vị mật độ phân bố doanh nghiệp trên 18 xã.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thúc đẩy khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa huyện Quảng Trạch bứt phá trong giai đoạn 2018 - 2025, bốn nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất:

  • Nâng cao năng lực tài chính và khả năng tiếp cận vốn tín dụng: Thiết lập cơ chế quỹ bảo lãnh tín dụng vi mô tại địa phương, liên kết chặt chẽ giữa Ủy ban nhân dân huyện Quảng Trạch với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh và các tổ chức tín dụng. Mục tiêu đến năm 2022 giải ngân nguồn vốn vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn 1,5 - 2%/năm cho ít nhất 60% số doanh nghiệp thuộc nhóm vốn dưới 1 tỷ đồng, tạo điều kiện mở rộng quy mô vốn bình quân toàn huyện tăng 15%/năm.
  • Quy hoạch quỹ đất và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật: Đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, bố trí tối thiểu 50 ha quỹ đất sạch trong các cụm công nghiệp địa phương và xúc tiến hạ tầng kết nối Cảng nước sâu Hòn La. Giao Phòng Kinh tế và Hạ tầng phối hợp Ban Quản lý Khu kinh tế Hòn La hoàn thành quy hoạch chi tiết trước năm 2021, đảm bảo 100% doanh nghiệp có nhu cầu thuê mặt bằng sản xuất được tiếp cận đất công khai, minh bạch.
  • Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Tổ chức định kỳ 4 - 6 khóa bồi dưỡng quản trị doanh nghiệp, chuyển đổi số và kỹ năng thương mại điện tử hàng năm cho đội ngũ giám đốc và quản lý cấp phòng. Giao Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội liên kết với các trường cao đẳng, đại học trong khu vực nhằm kéo giảm tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo từ 21,53% xuống dưới 10% vào năm 2025.
  • Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và xúc tiến thị trường: Cắt giảm 30% thời gian xử lý thủ tục cấp phép kinh doanh, thuế và môi trường tại bộ phận một cửa. Hội Doanh nghiệp huyện Quảng Trạch chủ trì thiết lập chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm nông - thủy sản chế biến, xây dựng sàn giao dịch sản phẩm địa phương nhằm mở rộng thị trường ra các tỉnh Bắc Trung Bộ và xuất khẩu sang thị trường Lào qua Cửa khẩu quốc tế Cha Lo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý Nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách cấp huyện, tỉnh: Sử dụng khung phân tích và dữ liệu thực chứng để xây dựng Nghị quyết phát triển kinh tế tư nhân, lập đề án quy hoạch cụm công nghiệp và điều chỉnh chính sách ưu đãi đầu tư giai đoạn trung hạn.
  • Chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã trên địa bàn: Tham khảo bức tranh toàn cảnh về thị trường, đánh giá các điểm nghẽn về cấu trúc tài chính, từ đó tái cấu trúc bộ máy quản trị, xây dựng chiến lược liên kết chuỗi và chủ động phòng ngừa rủi ro thị trường.
  • Các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng: Nắm bắt đặc điểm quy mô vốn và chu kỳ kinh doanh của từng nhóm ngành (công nghiệp - xây dựng đạt vốn bình quân 24,5 tỷ đồng/đơn vị, thương mại - dịch vụ đạt 6,2 tỷ đồng/đơn vị) để thiết kế các gói sản phẩm tín dụng và dịch vụ bảo lãnh thế chấp linh hoạt, phù hợp.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế: Khai thác bộ khung lý thuyết chuẩn hóa, phương pháp tiếp cận điều tra mẫu 81 doanh nghiệp và quy trình ứng dụng mô hình ANOVA làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu phát triển kinh tế địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao loại hình Công ty TNHH lại chiếm tỷ trọng áp đảo tại huyện Quảng Trạch? Loại hình Công ty TNHH tăng mạnh từ 57 cơ sở năm 2012 lên 100 cơ sở năm 2016 (chiếm 70,4%) do ưu thế vượt trội về chế độ trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp, thủ tục thành lập linh hoạt theo Luật Doanh nghiệp và mô hình quản trị tinh gọn. Điều này giúp các nhà đầu tư cá nhân tại nông thôn dễ dàng khởi nghiệp với số vốn ban đầu dưới 1 tỷ đồng mà không phải chịu rủi ro vô hạn như doanh nghiệp tư nhân.

2. Sự cố môi trường biển năm 2016 ảnh hưởng cụ thể như thế nào đến doanh nghiệp địa phương? Sự cố Formosa đã tác động tiêu cực trực tiếp đến 85 doanh nghiệp thương mại - dịch vụ và 2 doanh nghiệp thủy sản ven biển. Doanh thu bình quân của nhóm thương mại - dịch vụ giảm xuống 11,98 tỷ đồng/năm (giảm 7,9%/năm), lượng khách du lịch sụt giảm mạnh khiến tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ toàn huyện tăng lên 19,0% (27 đơn vị), buộc nhiều cơ sở phải thu hẹp quy mô hoạt động.

3. Khảo sát 81 doanh nghiệp năm 2017 phản ánh rào cản lớn nhất hiện nay là gì? Kết quả điều tra 81 phiếu cho thấy rào cản lớn nhất nằm ở chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận vốn. Có tới 21,53% lao động chưa qua đào tạo nghề, trong khi 82,4% doanh nghiệp có mức sinh lời dưới 50 triệu đồng/năm, khiến các đơn vị không đủ tài sản bảo đảm và phương án kinh doanh khả thi để tiếp cận các khoản vay trung - dài hạn từ hệ thống ngân hàng.

4. Khu kinh tế Hòn La mang lại tiềm năng gì nhưng tại sao doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa tham gia sâu? Khu kinh tế Hòn La sở hữu cảng biển nước sâu và kết nối trực tiếp Quốc lộ 12A sang Lào, mở ra cơ hội lớn cho logistics và chế biến xuất khẩu. Tuy nhiên, tính đến năm 2016 mới có 10 doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động tại đây do chi phí đầu tư hạ tầng ban đầu cao, thủ tục thuê đất phức tạp và bản thân doanh nghiệp địa phương còn quá nhỏ bé về vốn để tham gia chuỗi cung ứng.

5. Giải pháp nào mang tính đột phá để nâng cao lợi nhuận cho các doanh nghiệp siêu nhỏ? Doanh nghiệp cần nhanh chóng đổi mới thiết bị và ứng dụng công nghệ số trong quản trị bán hàng, đồng thời thành lập các liên minh ngành nghề thông qua Hội Doanh nghiệp huyện để gom đơn hàng, giảm chi phí vận chuyển nguyên vật liệu đầu vào từ 10 - 15%, chuyển dịch từ bán lẻ đơn thuần sang cung ứng dịch vụ phụ trợ cho các dự án công nghiệp lớn.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá thực chứng sự phát triển của 142 doanh nghiệp nhỏ và vừa huyện Quảng Trạch giai đoạn 2012 - 2016.
  • Nhận diện rõ nét xu hướng gia tăng về số lượng với tốc độ 9,2%/năm nhưng quy mô vốn và lao động có xu hướng thu hẹp (doanh nghiệp dưới 10 lao động chiếm 58,5%).
  • Đánh giá sâu sắc tác động của các cú sốc môi trường và điểm nghẽn chất lượng lao động (21,53% chưa qua đào tạo) đến hiệu quả sinh lời của khối kinh tế tư nhân.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về thể chế, tín dụng, mặt bằng sản xuất và đào tạo nhân lực với lộ trình thực hiện cụ thể đến năm 2025.
  • Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy giúp cấp ủy, chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân, tạo động lực thúc đẩy Quảng Trạch sớm trở thành vùng kinh tế động lực phía Bắc tỉnh Quảng Bình.