Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm văn nghệ quần chúng Văn nghệ là cách gọi tắt của cụm từ “Văn học nghệ thuật”. Khi bàn về các hoạt động văn nghệ, người ta thường chia ra làm 02 dạng: Văn nghệ chuyên nghiệp và VNQC (không chuyên nghiệp, nghiệp dư, dân gian). Hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra định nghĩa, khái niệm cụ thể, rõ ràng, thống nhất và chính thức về thuật ngữ “văn nghệ chuyên nghiệp” hay “VNQC”.
Tuy nhiên, cũng có một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về “VNQC”. “VNQC là của quần chúng sinh ra và cùng tồn tại trong đời sống hàng ngày của quần chúng, là nhu cầu, là món ăn tinh thần không thể thiếu của quần chúng từ đời này qua đời khác” [22, tr. VNQC là một phần quan trọng, là hoạt động mạnh mẽ nhất và thu hút đông đảo quần chúng nhất trong lĩnh vực văn hóa quần chúng. Tác giả Đoàn Văn Chúc có viết: “Văn hóa quần chúng: toàn thể tác phẩm văn hóa do mọi tầng lớp nhân dân sản xuất trong thì giờ rỗi, chủ yếu là các tầng lớp bình dân” [11].
Vậy cũng có thể suy ra, văn nghệ quần chúng là hoạt động mà toàn bộ những sản phẩm văn nghệ do mọi tầng lớp nhân dân sản xuất ra. Còn theo nghĩa trước nay người ta thường nói, VNQC là hoạt động của những người “nghệ sĩ” không chuyên, họ coi hoạt động văn nghệ là hoạt động làm thêm hoặc giải trí, còn nghề chủ yếu nuôi sống họ và họ sống với nó là một nghề khác trong lĩnh vực khác; là hoạt động văn nghệ của những người không được đào tạo bài bản hoặc không cần đào tạo về nghệ thuật, chỉ cần có năng khiếu, có chút hiểu biết về nghệ thuật qua các lớp bồi dưỡng, tập huấn, có sự nhiệt tình và lòng đam mê. Tuy nhiên trên thực tế không hẳn vậy. VNQC trong xã hội hiện đại dù vẫn là hoạt động không chuyên nghiệp, nhưng cũng đầy tính chuyên nghiệp và hiện đại: không chuyên nghiệp về xuất thân con người thuộc các thành phần, đối tượng khác nhau tổ chức và tham gia hoạt động VNQC; chuyên nghiệp về phương pháp và tư 11 duy tổ chức, về hình thức hoạt động và lực lượng nòng cốt; hiện đại về thiết bị, kỹ thuật và công nghệ; cũng là hoạt động có thu trong cơ chế thị trường dù không phải là sinh lợi (không phải như trước nay hay nghĩ chỉ là hoạt động phục vụ một chiều).
Hoạt động VNQC hiện nay có thể do nhân dân (quần chúng) tự tổ chức, nhưng đa phần hoạt động VNQC do Nhà nước tổ chức, phát động. Lực lượng làm công tác VNQC do Nhà nước tổ chức hiện nay phần lớn đều được Nhà nước tuyển dụng, trả lương để chuyên làm công tác này, được đào tạo bài bản, chính quy, có chuyên môn cao về quản lý tổ chức hoạt động; có phương pháp và kỹ năng chuyên nghiệp, có khả năng xây dựng các chương trình VNQC với quy mô lớn và mức độ hoánh tráng cao, được tiếp sức truyền tải bởi các phương tiện kỹ thuật và truyền thông đại chúng tiên tiến. Các hoạt động VNQC do các cá nhân, gia đình hoặc đoàn thể, tổ chức xã hội hay doanh nghiệp ngoài Nhà nước quản lý tổ chức cũng không còn hoàn toàn là hoạt động tự phát, thiếu chuyên môn, hay đơn thuần là giải trí. Trong xã hội hiện đại, ngoài những đặc điểm cố hữu, VNQC đã có sự thay đổi, mở rộng về chủ thể và hình thức quản lý, về đặc trưng, phương thức hoạt động cho phù hợp thực tiễn.
Vì thế, hiện nay có thể xem hoạt động VNQC là dạng hoạt động vừa mang tính xã hội, vừa mang tính Nhà nước,“dạng hoạt động này là rất bao la về nội dung và thình thức, thể loại, do hệ thống các TTVH, CLB hướng dẫn, thúc đẩy phát triển” [1, tr.18], đồng thời cũng được quản lý tổ chức rộng rãi theo chính sách xã hội hóa hoạt động VNQC trong cơ chế thị trường. Từ những nhận định trên, đứng trên góc độ tiếp cận của tác giả luận văn, có thể hiểu: Khái niệm VNQC là để chỉ hoạt động văn nghệ không chuyên nghiệp, là hoạt động văn nghệ vừa mang tính xã hội (do nhân dân tổ chức), vừa mang tính Nhà nước (do chính quyền, đoàn thể tổ chức), được tiến hành trên cơ sở cơ chế, chính sách của Nhà nước kết hợp với phát huy tính sáng tạo, chủ động, linh họat và tự nguyện của nhân dân, nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo và thể hiện văn hóa – văn nghệ của nhân dân theo xu thế chung của xã hội. Khái niệm quản lý, quản lý văn hóa và quản lý văn nghệ quần chúng 1. Khái niệm quản lý và quản lý văn hóa Về quản lý: Hiện nay trên thế giới, từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý.
Theo quan điểm của H. Fayol1: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 05 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”. Còn theo Peter F, Druker2: “Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn.
Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích ” [21, tr. Ở Việt Nam, đa số khái niệm quản lý của các nhà nghiên cứu đưa ra đều dựa trên cách tiếp cận hệ thống, xem mỗi tổ chức là hệ thống gồm có 02 phân hệ: chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Khoa học hành chính coi quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên khách thể nhằm đạt được mục tiêu định trước. Phó Giáo sư Nguyễn Tri Nguyên cho rằng “Quản lý được hiểu là sự điều hành của con người đối với một hệ thống nào đó nhằm thực hiện mục tiêu đã định trước” [39, tr.
Với Nguyễn Đức Lợi, “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động” [33, tr. Và như thế, theo cách tiếp cận hệ thống, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng hệ thống các phương pháp, biện pháp nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực để đạt được mục tiêu đề ra. 1 Henry Fayol (29 tháng 7 năm 1841 – 19 tháng 11 năm 1925), học giả người Pháp, là người đã phát triển học thuyết chung về quản trị kinh doanh hay thường được biết với tên gọi là Học thuyết Fayol. 2 Peter Ferdinand Drucker (19 tháng 11 năm 1909 – 11 tháng 11 năm 2005), học giả người Mỹ gốc Áo, là chuyên gia hàng đầu thế giới về tư vấn quản trị.
Ông được coi là cha đẻ của ngành Quản trị kinh doanh hiện đại, ông nắm giữ 25 chứng chỉ học vị tiến sĩ các loại của các trường Đại học từ Hoa Kỳ, Bỉ, Czech, Anh, Tây Ban Nha cho đến Thụy Sĩ. 13 Về quản lý văn hóa, quản lý nhà nước về văn hóa: Tiến sĩ Nguyễn Văn Tình trong cuốn Chính sách văn hóa trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam đã đưa ra nhận định: “Quản lý nhà nước về văn hóa ở nước ta là việc thực thi công tác quản lý của bộ máy Nhà nước từ Trung ương tới địa phương đối với các hoạt động văn hóa nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [57, tr. Còn trong bài “Mấy vấn đề về công tác quản lý văn hóa”, tác giả Nguyễn Ngọc Minh cho rằng, công tác quản lý nhà nước về văn hóa là quá trình tác động, điều chỉnh bằng pháp luật đối với mọi hoạt động văn hóa trong đời sống xã hội của con người, làm cho mọi biểu hiện về văn hóa nhằm vào việc thúc đẩy sự nghiệp văn hóa của nhân dân không ngừng lớn mạnh [37]. Trong xã hội hiện đại, với yêu cầu xây dựng một Chính phủ kiến tạo thì “Quản lý văn hóa với tư cách là quản lý về nghệ thuật và văn hóa xác định tính cách hoạt động được định hướng về kinh tế, về kế hoạch, về tính công khai, hoạt động liên quan tới nội dung nghệ thuật và mục tiêu văn hóa được tập trung nhằm vào sự kiến tạo hiện tại và tương lai” [39, tr.
Như vậy, ở nước ta, quản lý văn hóa là quản lý nhà nước về văn hóa, là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống chính sách, pháp luật nhằm phát triển các hoạt động văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân tổ chức và tham gia các hoạt động văn hóa. Chủ thể quản lý về văn hóa là Nhà nước với cơ quan quản lý văn hóa được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Bên cạnh đó, chủ thể quản lý văn hóa còn là quần chúng nhân dân. Khách thể quản lý văn hóa là các hoạt động văn hóa, các giá trị văn hóa và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hóa hoặc có liên quan đến lĩnh vực văn hóa.
Mục đích quản lý văn hóa là giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Công cụ của quản lý văn hóa là hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách và các nguồn lực có vai trò liên quan. Nhà quản lý sử dụng công cụ quản lý để tác động liên tục, 14 có tổ chức, có chủ đích lên khách thể quản lý chứ không phải là công việc có tính thời vụ, thụ động, đơn lẻ, tùy tiện theo ý chí của nhà quản lý. Quản lý văn hóa là công việc phức tạp đòi hỏi người làm công tác quản lý văn hóa phải có kiến thức về văn hóa, kiến thức về quản lý và quản lý nhà nước về văn hóa; phải giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân tham gia vào quá trình quản lý văn hóa.