CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về dịch vụ thẻ tín dụng 1. Những vấn đề cơ bản về thẻ tín dụng 1.Khái niệm Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán lâu đời trên thế giới, đã và đang trở nên phổ biến tại Việt Nam với những tính năng ưu việt của nó. Thẻ ngân hàng do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận.
Thẻ ngân hàng bao gồm thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng và thẻ trả trước Thẻ tín dụng (credit card) là loại hình thanh toán hiện đại thay thế cho việc sử dụng tiền mặt. Trong đó, ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng một hạn mức chi tiêu nhất định trên thẻ dựa trên uy tín, khả năng tài chính, số tiền ký quỹ hoặc tài sản bảo đảm để khách hàng có thể thực hiện việc thanh toán hóa đơn mua sắm hàng hoá và dịch vụ mà không cần phải sử dụng đến tiền mặt; và sau đó sẽ thanh toán lại cho ngân hàng số tiền mà khách hàng đã thực hiện giao dịch (đây được xem như một công cụ cho vay tiêu dùng của tổ chức phát hành cấp cho chủ thẻ)., Zeithaml and Mary J Bitner(2000) đã định nghĩa “ dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.” Như vậy, dịch vụ thẻ tín dụng là những sản phẩm, cách thức, quá trình mà ngân hàng cung cấp liên quan đến thẻ tín dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng sử dụng. Quá trình hình thành và phát triển của thẻ tín dụng Để có được những sản phẩm đa dạng như hiện nay, lĩnh vực thẻ ngân hàng nói chung và thẻ tín dụng nói riêng đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, đặc biệt là từ những năm đầu thế kỷ XX đến nay. Ngày 8-2-1949, sau khi ông Frank MC Namara (một doanh nhân người Mỹ) và bạn mình là ông Sneider ăn tối ở một nhà hàng, thì ông Frank MC Namara bỗng phát hiện ra mình không mang theo 5 tiền mặt và buộc phải gọi điện về nhà để người nhà mang tiền đến thanh toán tiền bữa ăn.
Tình thế khó xử lần đó khiến ông nảy ra ý tưởng về một hình thức thanh toán gọn nhẹ mà không cần mang theo tiền mặt bên cạnh. Ông đã thảo luận với chủ nhân nhà hàng Major’s Cabin Grill về việc họ sẽ nhận những chiếc thẻ chữ nhật có dòng chữ Diners Club để thay cho tiền mặt trong những trường hợp tương tự. Và sau khi hai bên đã thống nhất được với nhau về các hình thức thanh toán và giao dịch thì thẻ tín dụng đầu tiên mang tên “Diners Club” được ra đời. Cũng trong năm này, hai nhân vật trên đã sáng lập ra công ty Diners Club International để phát hành thẻ tín dụng, và loạt thẻ tín dụng đầu tiên được ra đời.
Tuy được ra đời từ một tình huống khó xử, nhưng với những tiện ích của mình thì thẻ tín dụng đã nhanh chóng chinh phục được khách hàng. Tiếp nối từ thành công của thẻ “Diners Club”, năm 1955, hàng loạt thẻ mới ra đời như: Trip Charge, GoldenKey, Gourment Club, Esquire Lub. Đến năm 1958, Carte Blanche và American Express ra đời và thống lĩnh thị trường. Và hiện nay tổ chức thẻ Amex (American Express) đang là tổ chức thẻ du lịch giải trí (Travel & Intertainment – T&E) lớn nhất thế giới.
Năm 1990 tổng doanh thu của thẻ Amex là 111,5 triệu USD với số lượng 35,4 triệu thẻ lưu hành, nhưng chỉ 3 năm sau đó vào năm 1993 tổng doanh thu đã tăng lên 124 tỷ USD với 36,5 triệu thẻ lưu hành, tại 36 triệu cơ sở chấp nhận thẻ. Tháng 9-1958, Bank of America phát hành BankAmericard, loại thẻ tín dụng hiện đại thành công đầu tiên, trên cơ sở đó đã hình thành hệ thống thanh toán VISA. Và vào năm 1960, khi các ngân hàng nhận thấy rằng phần lớn thẻ lúc bấy giờ chỉ dành cho giới doanh nhân giàu có trong khi đó tầng lớp công nhân viên chức, người lao động mới là đối tượng sử dụng thẻ chủ yếu cho thị trường tương lai nên thẻ VisaCard chính thức ra đời. Ngày nay VisaCard là loại thẻ có quy mô phát triển lớn nhất toàn cầu.
Tính đến năm 1990 tổng doanh thu từ việc sử dụng thẻ Visa là 345 tỷ USD với 257 triệu thẻ lưu hành, sang năm 1993 thì tổng doanh thu đã đạt 542 tỷ USD. Năm 1961, thẻ JCB được phát hành. Đây là thẻ có xuất phát từ Nhật Bản và được phát hành bởi ngân hàng Sanwa. Mục tiêu là hướng vào thị trường du lịch và 6 giải trí, hiện nay JCB là loại thẻ cạnh tranh với Amex và người Nhật đã chứng tỏ công nghệ thẻ không phải là độc quyền tuyệt đối của các tổ chức Mỹ.
Điều đó được thể hiện qua số liệu sau: năm 1990, tổng doanh thu của thẻ JCB đạt 16,5 tỷ USD với 17 triệu thẻ lưu hành và năm 1993 doanh số đã tăng lên 38,1 tỷ USD với 27,5 triệu thẻ được chấp nhận ở 400.000 nơi, tiêu thụ trên 109 quốc gia. Năm 1966, một vài ngân hàng tại California do không muốn “núp bóng” Bank of America (khi đó đã trở thành thủ lĩnh trong lĩnh vực này) đã cùng nhau liên kết tung ra loại thẻ Master Charge, tiền thân của loại thẻ MasterCard nổi tiếng ngày nay. Loại thẻ này phát triển rất nhanh, khi có thêm Everything Card của Citibank cùng gia nhập vào hệ thống MasterCard ra đời vào năm 1966 với tên gọi ban đầu là Master Charge do Hiệp hội ngân hàng gọi tắt là ICA (Interbank Card Assciation) phát hành thông qua các thành viên trên thế giới. Năm 1993 tổng doanh thu của thẻ là 320,6 tỷ USD với 215 triệu thẻ được chấp nhận ở 220 quốc gia, có hệ thống ATM lớn nhất thế giới tại 9 triệu điểm chấp nhận thẻ.
Ngày nay, MasterCard và VisaCard là hai loại thẻ được lưu hành phổ biến nhất. VisaCard chiếm khoảng 50% thị phần phát hành và hơn 45% thị phần thanh toán, kế đến là Mastercard với 30% thị phần phát hành và 25% thị phần thanh toán Hiện nay, thẻ tín dụng được xem như một công cụ thanh toán hiện đại, văn minh thuận tiện đặc biệt là tại các nước phát triển. Chính sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ đã góp phần liên tục trong việc cải tiến và hoàn thiện hơn tính năng của thẻ tín dụng, giúp cho thẻ tín dụng trở thành phương tiện thanh toán nhanh gọn, chính xác, an toàn, tiện lợi. Và việc thanh toán bằng thẻ đã trở thành vấn đề hết sức phổ biến, lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh thẻ và các sản phẩm dịch vụ khác đã chiếm 2/3 tổng lợi nhuận hoạt động của ngân hàng.
Sự phát triển của thẻ gắn liền với sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu. Với những tiện ích mang lại, thẻ ngân hàng đã chinh phục được những khách hàng khó tính nhất và mở ra những thị trường đầy hứa hẹn. Có thể khẳng định rằng thẻ ngân hàng vẫn đang và sẽ tiếp tục gặt hái được những thành công lớn trong thế kỷ tới. Vai trò, đặc điểm, chức năng thẻ tín dụng a.
Vai trò thẻ tín dụng Đối với chủ thẻ: - Không bị giới hạn bởi lượng tiền mang theo người, có thể giải quyết được những nhu cầu phát sinh đột xuất. Được cấp một hạn mức tín dụng để chi tiêu trước trả tiền sau - Có thể rút tiền mặt khi cần thiết tại các ngân hàng thanh toán thẻ hay tại các máy rút tiền tự động ATM ở khắp nơi trên thế giới. - Có thể kiểm tra số, điểm ứng tiền mặt thông qua các thiết bị của ngân hàng. - Được hưởng một số dịch vụ khác do ngân hàng phát hành và triển khai áp dụng cho chủ thẻ như: Dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ y tế, trợ giúp toàn cầu… - An toàn về tài sản, chỉ duy nhất chủ thẻ được sử dụng và biết mật mã riêng (số PIN) để sử dụng, vì vậy an toàn trong quản lý tài chính của các đơn vị chấp nhận thẻ vì thông tin về giao dịch được lưu lại nên không thất thoát được tiền mặt cũng như tránh được tiền giả, giảm thiểu sự nhầm lẫn trong thanh toán.
Đối với ĐVCNT - Việc mở rộng hình thức thanh toán bằng thẻ đối với khách hàng, được trang bị thiết bị hiện đại sẽ khiến ĐVCNT tiếp cận nhiều đối tượng khách hàng hơn giúp gia tăng doanh số, mở rộng thị trường và thu lợi nhuận nhiều hơn. Mặt khác, giúp ĐVCNT giảm chi phí công tác bảo quản vận chuyển tiền mặt, tránh mất cắp, thất lạc cũng như không phải lo lắng về vấn đề tiền giả. Đối với ngân hàng: - Thẻ tín dụng làm đa dạng hơn các hình thức thanh toán, tăng hiệu quả nghiệp vụ thanh toán, mở rộng đối tượng thanh toán, tăng doanh số thanh toán, tăng phí thu được từ các dịch vụ kèm theo, tăng lượng vốn huy động, cho vay và tăng lợi nhuận. - Nhờ sự phát triển của thẻ tín dụng mà các hình thức thanh toán khác cũng được trang bị nâng cấp hiện đại, tận dụng thành tựu công nghệ mới,qua đó nâng cao chất lượng thanh toán, phục vụ khách hàng an toàn, nhanh chóng.
- Hơn nữa, mỗi hợp đồng thẻ tín dụng đã tạo lập với khách hàng mối quan hệ tín dụng, thanh toán lâu dài, giúp nâng cao hình ảnh thương hiệu ngân hàng trên thị trường. 8 Đối với nền kinh tế - xã hội: - Góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, từ đó làm giảm các chi phí vận chuyển, phát hành, kiểm kê tiền, đồng thời giúp hạn chế được nạn tiền giả. - Góp phần tăng nhanh tốc độ chu chuyển thanh toán do hầu hết mọi giao dịch thẻ trong phạm vi quốc gia hay toàn cầu đều được thực hiện và thanh toán trực tuyến. - Thực hiện chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước: Việc sử dụng thẻ được thực hiện thông qua mạng trực tuyến dưới sự kiểm soát của ngân hàng đã tạo điều kiện quan trọng cho việc kiểm soát khối lượng tiền giao dịch thanh toán, do đó giảm được các hoạt động kinh tế ngầm, đồng thời qua đó có thể tính toán được lượng tiền cung ứng, tăng cường tính chủ đạo của nhà nước trong nền kinh tế vĩ mô.
- Cải thiện môi trường văn minh thương mại, thu hút khách du lịch và đầu tư nước ngoài.