CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động thanh toán quốc tế 1. Khái niệm Theo Đinh Xuân Trình (2012), thanh toán quốc tế là việc thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh có liên quan tới các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nước. Theo khái niệm này, thương mại quốc tế nói riêng cũng như hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung tất yếu làm nảy sinh các nghĩa vụ tiền tệ.
Hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại ra đời và phát triển là cần thiết khách quan để thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ đó. Thanh toán quốc tế có liên quan đến tiền tệ của các nước, do vậy thanh toán quốc tế liên quan chặt chẽ đến vấn đề tỷ giá hối đoái, chính sách quản lý ngoại hối của mỗi quốc gia. Thanh toán quốc tế liên quan đến tín dụng quốc tế. Thanh toán quốc tế liên quan đến các phương tiện và phương thức thanh toán quốc tế.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2017), TTQT là việc thực hiện nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với các tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan. Khái niệm trên cho thấy thanh toán quốc tế phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế. Tuy nhiên, trong thực tế, hai lĩnh vực này thường giao thoa với nhau, không có một ranh giới rõ rệt. Chính vì vậy, trong các quy chế về thanh toán và thực tế tại các NHTM, người ta thường phân loại hoạt động thanh toán quốc tế thành hai lĩnh vực rõ ràng là: thanh toán trong ngoại thương (hay thanh toán mậu dịch) và thanh toán phi ngoại thương (hay thanh toán phi mậu dịch).
- Thanh toán ngoại thương là việc thực hiện trên cơ sở hàng hoá xuất nhập khẩu, và cung ứng các dịch vụ thương mại cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế. Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương. - Thanh toán phi ngoại thương là việc thực hiện thanh toán không liên quan đến hàng hoá xuất nhâp khẩu cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài, nghĩa là thanh toán cho các hoạt động không mang tính thương mại. Đó là việc chi trả các chi phí của các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các chi phí đi lại của các đoàn khách nhà nước, tổ 8 chức và cá nhân, các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá nhân người nước ngoài cho cá nhân trong nước, các nguồn trợ cấp của một tổ chức từ thiện nước ngoài cho tổ chức, đoàn thể trong nước,.
Qua những phân tích trên, chúng ta có thể hiểu thanh toán quốc tế được bắt nguồn từ hoạt động ngoại thương, thanh toán quốc tế là khâu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng và nhiều khi là khâu quyết định đến hiệu quả và tăng trưởng ngoại thương và mục đích chính của thanh toán quốc tế là để hỗ trợ và phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu giữa các nước diễn ra một cách trôi chảy và hiệu quả, giúp cho người bán hàng thu được tiền và người mua trả tiền để nhận hàng hóa. Vì thanh toán quốc tế được thực hiện qua hệ thống ngân hàng nên khi nói đến thanh toán quốc tế là nói đến hoạt động thanh toán của ngân hàng thương mại và không một ngân hàng thương mại nào lại không muốn phát triển các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế trong đó lấy thanh toán quốc tế làm trọng tâm phát triển. Đặc điểm Trầm Thị Xuân Hương (2014) cho rằng, hoạt động thanh toán quốc tế có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, TTQT chịu sự điều chỉnh của luật pháp và các tập quán quốc tế. Hoạt động TTQT liên quan đến các chủ thể ở hai hay nhiều quốc gia, do đó, các chủ thể khi tham gia vào hoạt động TTQT không những chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia, mà còn phải tuân thủ các văn bản pháp lý quốc tế, các tập quán quốc tế do Phòng thương mại quốc tế ban hành như : UCP, URC, Incoterms.
Những văn bản này tạo ra một khung pháp lý bình đẳng, công bằng cho các chủ thể khi tham gia vào hoạt động thương mại và thanh toán quốc tế, tránh những hiểu lầm và tranh chấp đáng tiếc xảy ra. Thứ hai, hoạt động TTQT được thực hiện phần lớn thông qua hệ thống ngân hàng. Trừ một lượng rất nhỏ hàng hóa xuất nhập khẩu được mua bán thông qua con đường tiểu ngạch thì hầu hết kim ngạch xuất nhập khẩu của một nước được phản ánh qua doanh số thanh toán quốc tế của hệ thống NHTM. Trong thực tiễn, người xuất khẩu và người nhập khẩu không thể và không được phép tiến hành thanh toán trực tiếp cho nhau, mà theo luật định, nhất nhất phải thanh toán qua hệ thống ngân hàng.
Điều này cho thấy, trong thanh toán quốc tế sẽ có ít nhất hai ngân hàng tham gia, một ngân hàng phục vụ người xuất và một ngân hàng phục vụ người nhập ở hai nước khác nhau. Việc thanh 9 toán qua ngân hàng đảm bảo cho các khoản chi trả được thực hiện một cách an toàn, nhanh chóng và hiệu quả. Thứ ba, trong thanh toán quốc tế, tiền mặt hầu như không được sử dụng trực tiếp, mà thay vào đó là các phương tiện thanh toán như hối phiếu, kỳ phiếu và séc. Thứ tư, trong thanh toán quốc tế, ít nhất một trong hai bên (hoặc người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu) có liên quan đến ngoại tệ (trừ khu vực sử dụng đồng tiền chung).
Do đó, hoạt động thanh toán quốc tế chịu sự ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại hối quốc gia. Thứ năm, ngôn ngữ sử dụng trong thanh toán quốc tế được sử dụng chủ yếu bằng tiếng Anh. Thứ sáu, giải quyết tranh chấp chủ yếu bằng luật quốc tế; hoặc luật quốc gia của nước thứ ba; hoặc luật của nước người xuất hay nước người nhập do các bên thỏa thuận thông qua con đường trọng tài hay tòa án. ười nhập khẩu) có liên quan đến ngoại tệ (trừ khu vực sử dụng đồng tiền chung).
Do đó, hoạt động thanh toán quốc tế chịu sự ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại hối quốc gia. Thứ năm, ngôn ngữ sử dụng trong thanh toán quốc tế được sử dụng chủ yếu bằng tiếng Anh. Thứ sáu, giải quyết tranh chấp chủ yếu bằng luật quốc tế; hoặc luật quốc gia của nước thứ ba; hoặc luật của nước người xuất hay nước người nhập do các bên thỏa thuận thông qua con đường trọng tài hay tòa án. Các văn bản điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế 1.
Luật và Công ước quốc tế Công ước Geneve 1930 về Luật thống nhất về hối phiếu (Uniform Law for Bill of Exchange – ULB 1930): Luật hối phiếu thống nhất ULB 1930 có hiệu lực tại tất cả các nước Châu Âu (ngoại trừ Anh). Nhiều nước mặc dù không tham gia Công ước Geneve, nhưng vẫn xây dựng Luật hối phiếu của họ tương thích với ULB 1930, chính điều đó càng làm cho tính hiệu lực quốc tế của ULB không những không bị yếu đi mà ngày càng được thừa nhận trong cuộc sống. Thực tế, Việt Nam đã áp dụng và tuân thủ Công Ước này, trước tình hình kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ, nhằm tăng cường lưu thông và thúc đẩy sản xuất, Quốc hội Việt Nam ban hành Luật các công cụ chuyển nhượng, có hiệu lực từ 1/7/2006. Công ước Geneve 1931 về Luật thống nhất về Séc (Uniform Law on Cheque – ULC 1931): theo công ước này, đã cho phép các nước tham gia có “quyền bảo lưu” theo cách 10 riêng của mình, làm cho tính thống nhất quốc tế trở nên không cao.
Ngoài ra hai cường quốc về kinh tế, thương mại và tài chính là Anh và Mỹ đã không tham gia công ước này. Cho dù Công ước Genever 1931 về Luật séc quốc tế chưa mang tính quốc tế một cách tuyệt đối, nhưng khi các quốc gia xây dựng Luật séc cho mình cũng dựa chủ yếu vào Công ước này. Công ước Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán quốc tế (United nations convention on contracts for the international sale of goods– Vienne Convention 1980 – Hay còn gọi là công ước Viên 1980): Công ước Viên năm 1980 là một trong những công ước quốc tế về thương mại được phê chuẩn và áp dụng rộng rãi nhất hiện nay, Ước tính Công Ước điều chỉnh khoảng 3/4 giao dịch thương mại quốc tế. Công ước Viên về Hợp đồng Mua bán Hàng hoá Quốc tế là một mô hình hữu ích cho các nước đang nổi lên đang xem xét việc ban hành luật hợp đồng và mua bán hiện đại.
Công ước này áp dụng đối với các hợp đồng mua bán giữa người mua và người bán có trụ sở thương mại tại các nước là thành viên của Công ước, song Công ước có sự nhất quán trong việc nhấn mạnh yếu tố tự do của hợp đồng, theo đó các bên có quyền quy định các điều khoản cụ thể theo thỏa thuận. Ngày 18/12/2015, Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhập Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hợp quốc (“CISG”) để trở thành viên thứ 84 của Công ước này. Điều đáng chú ý là Việt Nam đã đi trước nhiều nước ASEAN khác để trở thành thành viên thứ 2 sau Singapore gia nhập Công ước quan trọng này. Công ước Viên bắt đầu có hiệu lực ràng buộc tại Việt Nam từ ngày 1/1/2017.
Việc gia nhập CISG đã đánh dấu một mốc mới trong quá trình tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương về thương mại, tăng cường mức độ hội nhập của Việt Nam, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế và cho các doanh nghiệp việt nam một khung pháp lý hiện đại, công bằng và an toàn để thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Luật hối phiếu và kỳ phiếu 1982 thông qua bởi Ủy ban Luật Thương Mại Quốc Tế của Liên Hợp Quốc kỳ họp thứ 15, New York, ngày 26 tháng 7 đến 6 tháng 8, 1982: Quy ước này áp dụng cho hối phiếu quốc tế và kỳ phiếu quốc tế.