Chương 1: Cơ sở khoa học về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử. Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại gân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội – MB Hòa Khánh. Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại gân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội – MB Hòa Khánh. PHẦ III: KẾT LUẬ VÀ KIẾ GHN 14 PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂ DNCH VỤ GÂ HÀ G ĐIỆ TỬ 1.1 Cơ sở lý luận về dịch vụ ngân hàng điện tử 1.1 Khái niệm về ngân hàng điện tử Công nghệ cao đang được áp dụng ngày càng nhiều trong kinh doanh, đặc biệt trong các tổ chức dịch vụ có liên quan đến việc giao dịch trực tiếp đối với khách hàng như ngân hàng, môi giới chứng khoán, v.v…Công nghệ giao dịch mới trong hoạt động ngân hàng đối với nền tảng công nghệ thông tin đã được các nước tiên tiến vận dụng và phát triển với tốc độ cao nhằm nâng cao công suất dịch vụ, tiết kiệm chi phí nhân công, chi phí cho dịch vụ, mở rộng giao diện với khách hàng và quản lý tốt hơn dữ liệu về khách hàng, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng về chất lượng cũng như thời gian.
Trong vài thập kỷ trở lại đây thuật ngữ “ngân hàng điện tử - Electronic banking” được sử dụng khá phổ biến. Theo sự nghiên cứu của Keivani và các cộng sự (2008) thì ngân hàng điện tử là “một thuật ngữ cho quy trình mà trong đó khách hàng có thể thực hiện các giao dịch ngân hàng thông qua các kênh điện tử mà không cần phải đến các cơ sở/chi nhánh ngân hàng” chỉ cần thông qua các mạng công cộng hoặc tư nhân, bao gồm cả mạng Internet. Tóm lại, ngân hàng điện tử chính là kênh phân phối sản phNm, dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử; là khả năng khách hàng có thể truy cập từ xa vào một ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử và bao gồm các dịch vụ ngân hàng được thực hiện bằng điện tử.2 Khái niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử: Dịch vụ ngân hàng điện tử là dịch vụ ngân hàng hướng người sử dụng trong tương lai, nhằm mang lại nhiều thuận tiện cho khách hàng và giảm thiểu chi phí hoạt động cho ngân hàng. Có thể nói, các dịch vụ ngân hàng điện tử chính là tác nhân quan trọng 15 góp phần to lớn vào sự thành công và phát triển của hệ thống ngân hàng nói chung và của từng ngân hàng cụ thể nói riêng.
Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử. Có quan niệm cho rằng dịch vụ ngân hàng điện tử (N HĐT) hiểu theo nghĩa trực quan đó là một loại dịch vụ ngân hàng (N H) được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên N H hay là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ N H truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông. Cụ thể hơn: - Theo tài liệu của N gân hàng thế giới (2003) thì dịch vụ N HĐT là “các dịch vụ và sản phNm ngân hàng được cung cấp cho các khách hàng bán buôn và bán lẻ thông qua các kênh điện tử”. Theo Tạp chí The Australian Banker “Dịch vụ N HĐT là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua việc nối mạng máy vi tính của mình với ngân hàng” - Theo quan điểm của Hội đồng giám định tài chính quốc gia Iran (2006) thì “dịch vụ ngân hàng điện tử sẽ cung cấp một cách tự động các sản phNm dịch vụ ngân hàng truyền thống cũng như hiện đại trực tiếp đến cho khách hàng thông qua các kênh điện tử.
Dịch vụ ngân hàng điện tử là một hệ thống cho phép khách hàng, bao gồm cả cá nhân và doanh nghiệp, xem số dư tài khoản, thực hiện các giao dịch, thu thập thông tin về các sản phNm và dịch vụ tài chính thông qua các mạng công cộng hoặc tư nhân, bao gồm cả mạng Internet. - N gân hàng N hà nước Việt N am cũng đã đưa ra định nghĩa về dịch vụ N HĐT đó là: “Các dịch vụ và sản phNm N H hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24 giờ/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối (Internet và các thiết bị truy nhập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động.) được gọi là dịch vụ N HĐT”. Đồng thời, tại Điều 4 Luật Giao dịch điện tử Việt N am 2005 cũng làm rõ khái niệm về phương tiện điện tử được sử dụng trong giao dịch điện tử là “là các phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật 16 số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học điện tử hoặc công nghệ tương ứng. Mạng viễn thông bao gồm mạng internet, mạng điện thoại,.
Từ các khái niệm được nêu ra có thể nhận thấy rằng thực chất của dịch vụ ngân hàng điện tử là việc thiết lập một kênh trao đổi thông tin tài chính giữa khách hàng và ngân hàng nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng một cách nhanh chóng, an toàn và thuận tiện.3 Đặc điểm của dịch vụ HĐT: Đối với KH của N H, việc sử dụng dịch N HĐT đã dần trở thành nhu cầu không thể thiếu: Đó có thể chỉ là dịch vụ truy vấn thông thường, dịch vụ chuyển khoản hoặc dịch vụ thanh toán, dần dần dịch vụ N HĐT đã tiến đến phục vụ các nghiệp vụ phức tạp hơn như kinh doanh ngoại tê, cho vay, đầu tư tự động. Dịch vụ HĐT có tốc độ xử lí giao dịch nhanh chóng Dịch vụ N HĐT cho phép KH thực hiện giao dịch với N H trong thời gian ngắn nhất. Trong thời đại hiện nay quỹ thời gian của mọi người càng trở nên eo hẹp, KH mong muốn chỉ ngồi một chỗ và kích chuột là có thể thực hiện được giao dịch của mình. Thời gian chính là tiền bạc, tiết kiệm thời gian là mang lại tiền bạc cho KH.
Hiện nay thời gian xử lí cho một giao dịch ngày càng giảm, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin. Các N H đều chú trọng nâng cấp hệ thống để có thể mang lại những dịch vụ N HĐT ổn định nhất, có thời gian xử lí giao dịch nhanh nhất để làm hài lòng khách hàng. Dịch vụ HĐT không bị giới hạn về không gian, thời gian Khách hàng không cần phải đến N H ký vào giấy tờ, viết phiếu chuyển tiền, chờ xếp hàng mà họ chỉ cần thực hiện giao dịch trên máy tính, máy điện thoại, gọi một cuộc điện thoại tại nhà, tại phòng làm việc, ở quán cà phê. Chỉ trong giây lát, với các phương tiện truyền dẫn hiện đại, KH có thể kiểm tra được tài khoản, thanh toán phí dịch vụ, chuyển khoản, thực hiện các giao dịch thanh toán tiền - mua hàng để kịp thời nắm bắt các cơ hội đầu tư, kinh doanh.
Mọi thứ diễn ra rất nhanh chóng, tức thời thông qua hệ thống xử lý tự động của ngân hàng. 17 Dịch vụ HĐT có chi phí giao dịch thấp nhất N goài việc tiết kiệm được chi phí đi lại, giảm thiểu được các chi phí cơ hội do việc tiết kiệm thời gian thì nhìn trên biểu phí của một N H, dịch vụ N HĐT luôn có mức phí thấp nhất. Điều này cũng xuất phát từ việc bản thân N H không mất các chi phí về thuê địa điểm, chi phí trả lương cho nhân viên, chi phí hành chính, chi phí cho giấy tờ hạch toán, chi phí kiểm đếm nên KH cũng được hưởng mức phí sử dụng thấp hơn rất nhiều. Dịch vụ HĐT mang lại nhiều cơ hội kinh doanh cho chính khách hàng Với tốc độ phát triển của các hình thức kinh doanh trên mạng cả về số lượng và chất lượng thì việc thanh toán tiền qua các dịch vụ N HĐT là điều không thể thiếu.
Bạn ngồi ở nhà lựa chọn hàng hóa qua website và thanh toán tiền cho nhà cung cấp qua các dịch vụ N HĐT đã trở nên cực kỳ phổ biến. Cho dù là những hình thức kinh doanh nhỏ lẻ (nhận tiền rồi giao hàng) đến những hình thức kinh doanh cao cấp hơn (cổng thanh toán trực tuyến) vẫn không thể thiếu sự tham gia của các dịch vụ N HĐT. Càng nhiều đối tác liên kết thanh toán qua dịch vụ N HĐT, N H và KH càng có lợi. Dịch vụ HĐT có tính toàn cầu hóa Phát triển dịch vụ N HĐT góp phần tiết kiệm cho nền kinh tế và tăng khả năng hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Với sự hỗ trợ của mạng Internet toàn cầu, KH có thể lựa chọn hàng hóa dịch vụ không giới hạn trong một nước, dịch vụ N HĐT hiện đại giúp quốc tế hóa hình ảnh của N H mang lại những tiềm năng phát triển ra quốc tế.4 Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử 1.1 Đối với khách hàng N hanh chóng, thuân tiện, tiện nghi và luôn sẵn sàng phục vụ: khách hàng có thể giao dịch 24/24 trong ngày mà không cần đến ngân hàng, dịch vụ ngân hàng điện tử kết nối khách hàng với ngân hàng tại bất cứ không gian và thời gian nào. Với những khách hàng bận rộn, thời gian hạn chế không thể đến giao dịch trực tiếp với ngân hàng thì đặc biệt có ý nghĩa. 18 Tiết kiệm được thời gian và giảm chi phí dịch vụ. Khách hàng có thể giao dịch mà không cần đến ngân hàng do vậy tiết kiệm chi phí đi lại, đối với doanh nghiệp thì không chỉ tiết kiệm chi phí đi lại khi cần chuyển khoản, thanh toán hóa đơn,… mà còn tiết kiệm chi phí lưu trữ, bảo quản khi sử dụng tiền mặt.
Tiếp cận thông tin nhanh chóng, đặc biệt là thông tin về tài khoản. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp, cá nhân có yêu cầu cao về quản lý tài chính hoặc đang sử dụng nhiều tài khoản khác nhau 1.2 Đối với ngân hàng Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, thông qua những dịch vụ mới, những kênh phân phối mới đó, ngân hàng có thể mở rộng đối tượng khách hàng, phát triển thị phần. Bên cạnh đó phát triển mạnh các dịch vụ hiện đại làm thay đổi cơ cấu thu thập theo hướng giảm dần tỷ trọng thu nhập từ hoạt động tín dụng, là hoạt động tiềm Nn rủi ro cao, tăng tỷ trọng nguồn thu nhập phi lãi.