Chương 1 - Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ và tầm quan trọng phát triển dịch vụ chuyển mạch thanh toán quốc tế ở Việt Nam Chương 2 -Thực trạng phát triển dịch vụ chuyển mạch thanh toán quốc tế tại Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt nam Chương 3 -Một số kiến nghị, giải pháp phát triển dịch vụ chuyển mạch thanh toán quốc tế tại Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt nam 13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VÀ TẦM QUAN TRỌNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHUYỂN MẠCH THANH TOÁN QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 1. Dịch vụ chuyển mạch thanh toán quốc tế 1. Khái niệm về dịch vụ chuyển mạch thanh toán Theo thông tư số 39/2014/TT-NHNN, dịch vụ chuyển mạch thanh toán hay còn gọi là dịch vụ chuyển mạch tài chính là “dịch vụ cung ứng hạ tầng kỹ thuật để thực hiện việc kết nối, truyền dẫn và xử lý dữ liệu điện tử để thực hiện các giao dịch thanh toán thông qua ATM, POS, Internet, điện thoại di động và các kênh giao dịch điện tử khác giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và/hoặc giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán” Dịch vụ chuyển mạch thanh toántại Napas là dịch vụ kết nối liên thông hệ thống thanh toán thẻ thông qua ATM, POS của các ngân hàng để thiết lập mạng lưới chia sẻ ATM, POS giữa các ngân hàng. Với việc kết nối chuyển mạch, chủ thẻ có thể thực hiện giao dịch trên máy ATM, POS trong mạng lưới các ngân hàng đã tham gia kết nối, chứ không bị giới hạn trong mạng lưới ATM, POS của ngân hàng nơi chủ thẻ phát hành thẻ.
Khisử dụng dịch vụ chuyển mạch thông qua ATM, chủ thẻ có thể sử dụng dịch vụ tại ATM của Ngân hàng khác mà không nhất thiết tại ATM của Ngân hàng nơi chủ thẻ phát hành thẻ bao gồm dịch vụ sau: - Rút tiền (Cash withdrawal) - Vấn tin số dư tài khoản (Balance Inquiry) - In sao kê rút gọn (Mini statement) - Chuyển khoản nội bộ ngân hàng (tài khoản gửi và tài khoản nhận cùng thuộc một hệ thống ngân hàng phát hành). (Funds transfer) - Chuyển khoản liên ngân hàng (tài khoản gửi, tài khoản nhận không cùng trong một hệ thống Ngân hàng phát hành – mô hình chuyển tiền hai chân; tài khoản gửi, tài khoản nhận và POS thực hiện giao dịch từ các ngân hàng khác nhau trong hệ thống Napas – mô hình chuyển tiền ba chân) - Các dịch vụ giá trị gia tăng khác: Nạp tiền, thanh toán hóa dơn 1. Phân loại dịch vụ chuyển mạch thanh toán Căn cứ chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước, đến nay dịch vụ chuyển mạch thanh toán tại Việt Nam gồm hai loại, căn cứ theo vị trí địa lý: Dịch vụ chuyển mạch thanh toán nội địa là dịch vụ kết nối liên thông hệ thống thanh toán thẻ thông qua ATM, POS của các ngân hàng trong nước để thiết lập mạng lưới ATM, POS dùng chung giữa các ngân hàng. Với việc kết nối chuyển mạch thanh toán, chủ thẻ nội địa có thể thực hiện giao dịch trên máy ATM, POS trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, với mạng lưới các ngân hàng đã tham gia kết nối dịch vụ, chứ không bị giới hạn trong mạng lưới ATM, POS của chính ngân hàng nơi chủ thẻ nội địa phát hành thẻ.
Cho đến nay, tại Việt nam, Công ty Cổ phần thanh toán Quốc gia Việt Nam là Công ty duy nhất được Ngân hàng nhà nước giao nhiệm vụ là trung gian kết nối giữa các Ngân hàng. Tính đến nay, Napas đã có 45 Ngân hàng thành viên và hoàn thiện vận hành kết nối với 44 Ngân hàng vào triển khai dịch vụ chuyển mạch thanh toán nội địa trên cả ATM và POS. Chỉ có duy nhất Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín – Vietbank chưa có hệ thống switch, không phát hành thẻ nên không 15 tham gia triển khai. Tuy nhiên Ngân hàng Vietbank vẫn tham gia là Ngân hàng thành viên sử dụng các dịch vụ liên quan tới tài khoản.1: Danh sách Ngân hàng kết nối dịch vụ chuyển mạch thanh toán nội địa STT Tên ngân hàng STT Tên ngân hàng 1 Ngân hàng TMCP Bảo Việt 24 Ngân hàng TMCP Á Châu Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Dầu Khí 2 25 Việt Nam Toàn Cầu Ngân hàng TNHH MTV Hongleong 3 26 Ngân hàng TMCP HDBank Việt Nam 4 Ngân hàng TNHH Indovina 27 Ngân hàng TMCP Đông Nam Á 5 Ngân hàng TMCP Kiên Long 28 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 6 Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt 29 Ngân hàng TMCP An Bình Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông 7 Ngân hàng TMCP Quân Đội 30 thôn Việt Nam 8 Ngân hàng TMCP Hàng Hải 31 Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 9 Ngân hàng TMCP Bắc Á 32 Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam 10 Ngân hàng TMCP Quốc Dân 33 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương 11 Ngân hàng TMCP Phương Đông 34 Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Đại Dương 12 Ngân hàng TMCP Sài Gòn 35 Ngân hàng Liên doanh Việt Nga 13 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội 36 Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam 14 Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam 37 Ngân hàng TMCP Xăng Dầu Petrolimex Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Xây 15 Ngân hàng Shinhan Việt Nam 38 dựng Việt Nam 16 Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam 39 Ngân hàng TMCP Nam Á 17 Ngân hàng TMCP Tiên Phong 40 Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam 18 Ngân hàng TMCP Việt Á 41 Ngân hàng TMCP Đông Á Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Ngân hàng Công nghiệp Hàn Quốc - Chi 19 42 Việt Nam nhánh Hà Nội Ngân hàng Công nghiệp Hàn Quốc - Chi 20 Ngân hàng TMCP Bản Việt 43 nhánh TP.
HCM 21 Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam 44 Ngân hàng United OverSeas chi nhánh tp HCM 22 Ngân hàng Liên doanh VID PUBLIC 45 Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín 23 Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng “Nguồn: tài liệu khách hàng của phòng Quan hệ Ngân hàng năm 2016” 16 Dịch vụ chuyển mạch thanh toán quốc tế là dịch vụ kết nối liên thông hệ thống thanh toán thẻ thông qua ATM, POS của các ngân hàng/tổ chức thẻ quốc tế để thiết lập mạng lưới ATM, POS dùng chung giữa các Ngân hàng/tổ chức thẻ. Với việc kết nối chuyển mạch, chủ thẻ nội địa có thể thực hiện giao dịch trên máy ATM, POS trong mạng lưới các ngân hàng/tổ chức thẻ đã tham gia kết nối, chứ không bị giới hạn trong mạnglưới ATM, POS của ngân hàng nơi chủ thẻ phát hành thẻ và không bị giới hạn về phạm vi thực hiện tại cùng một quốc gia.2: Danh sách Tổ chức kết nối dịch vụ chuyển mạch thanh toán quốc tế STT Tên ngân hàng Năm kết nối 1 China Unionpay 2009 2 Malaysian Electronic Payment System Sdn Bhd 2012 3 National ITMX Co. 2012 4 Korea Financial Telecommunication & Clearing Institute 2011 5 Ngân hàng liên doanh Lào Việt 2014 6 National Payment Card System Joint Stock Comapy 2016 “Nguồn: tài liệu khách hàng của phòng Quan hệ Ngân hàng năm 2016” Với các dịch vụ chuyển mạch thanh toán quốc tế hay nội địa đều có các loại dịch vụ chuyển mạch trên ATM và POS tương ứng với dịch vụ chuyển mạch thanh toán nói chung như vấn tin, rút tiền, thanh toán. Khi các tổ chức chuyển mạch thanh toán ra đời giúp các Ngân hàng cóthể sử dụng chung mạng lưới ATM, POS rộng khắp mà không cần thực hiện đầu tư mới các thiết bị ATM, POS phục vụ khách hàng.
Các Ngân hàng cũng không cần đầu tư chi phí ban đầu và vận hành vào việc thực hiện các kết nối song phương. Điều này giúp các Ngân hàng vừa tiết kiệm chi phí đầu tư, phát triển mới cho Ngân hàng cùng như toàn xã hội vừa mang lại thêm nhiều tiện ích cho chủ thẻ. Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ chuyển mạch thanh toán quốc tế 1. Khái niệm về phát triển dịch vụ Theo từ điển bách khoa, “Phát triển là sự biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”.
Ngoài ra, theo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin thì cho rằng:“Theo quan điểm siêu hình: Phát triển chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật, đồng thời phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp. Phép biện chứng duy vật cho rằng: Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật” Dựa trên những quan điểm trên, theo tác giả “Phát triển dịch vụ là việc gia tăng về số lượng và chất lượng dịch vụ cũng như hoàn thiện, kiện toàn dịch vụ mang lại hiệu quả nhất cho doanh nghiệp” Ứng dụng trong kinh tế học, đã có nhiều nhà quản trị có các cách khác nhau trong việc phát triển. Đến nay, có 11 trường phái quản lý chính. Theo trường phái quản lý cổ điển gồm hai thuyết quản lý chính: thuyết quản lý theo khoa học do F.
Taylor đại diện và thuyết quản lý tổng quát (do H. Hai trường phái này đặt nền móng đầu tiên cho khoa học quản lý đã ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế học nói chung. Trong đó: Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915) là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý, là “cha đẻ” của trường phái quản lý theo khoa học - người đầu tiên tiếp cận và nghiên cứu quản lý một cách khoa học và có hệ thống. Taylor cho rằng để có thể phát triển là việc thực hiện các quy trình mang tính chất khoa học, duy lý nhằm kiểm soát con người, máy móc, nguyên vật liệu, tiền bạc với trọng tâm là công việc, nhiệm vụ và hiệu suất lao động.