Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ CẢNG BIỂN VÀ PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ CẢNG BIỂN 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DỊCH VỤ CẢNG BIỂN VÀ PHÁT CÁC TRIỂN DỊCH VỤ CẢNG BIỂN 1. Một số khái niệm - Dịch vụ Các hoạt động dịch vụ đang phát triển mạnh mẽ và chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế của rất nhiều quốc gia trên thế giới. Cùng điều đó, dịch vụ và những vấn đề liên quan đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu.
Tuy nhiên cho đến nay, mặc dù khái niệm dịch vụ đã trở nên gần gũi song việc đưa ra một định nghĩa thống nhất về dịch vụ vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận. Cụ thể có một số định nghĩa về dịch vụ sau: + Theo Philip Kotler: “ Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất” [8, Tr. + Trong kinh tế học: Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất.
Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.TS Nguyễn Văn Thanh, Đại học Bách khoa Hà Nội, cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn” [10, Tr. Nguyễn Thị Mơ (2005) định nghĩa rằng: “ Dịch vụ là các hoạt động của con người được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được” [9, Tr. 4 + Cũng theo các tiếp cận tương tự, TS. Hồ Văn Tĩnh (2006) đã đưa ra định nghĩa: “Dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể”.
+ Quan niệm phổ biến khác cho rằng: “ Dịch vụ là những hoạt động mạng tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật thể, nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quả hơn các nhu cầu trong sản xuất và đời sống con người”. (Nguyễn Thu Hằng, 2004) Từ những quan điểm trên, có thể định nghĩa dịch vụ một cách chung nhất là: Dịch vụ là những hoạt động có ích của con người tạo ra những sản phẩm dịch vụ, không tồn tại dưới hình thái sản phẩm, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn đầy đủ, kịp thời, thuận tiện và văn minh các nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội của con người. Các loại dịch vụ có thể được xem xét trên 3 khía cạnh: + Dịch vụ thuần túy, là dịch vụ không có sản phẩm vật chất kèm theo hoặc không có các dịch vụ bổ sung khác. Ví dụ như vận chuyển hàng hóa đến đúng địa điểm thỏa thuận.
+ Dịch vụ chính có kèm theo dịch vụ bổ sung. Ví dụ, hành khách trên tàu Hòa Bình được phục vụ phòng có ti vi… Sự phát triển các loại dịch vụ bổ sung có tác dụng to lớn phục vụ sự đầy đủ, thuận tiện, kịp thời, văn minh cho khách hàng và có tác dụng rất lớn thu hút khách hàng, cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. + Dịch vụ có kèm theo sản phẩm vật chất hoặc mua bán sản phẩm vật chất kèm theo dịch vụ. Ví dụ, bán hàng hóa cho khách hàng có kèm theo hướng dẫn sử dụng cho khách hàng, có vận chuyển đến tận nơi cho khách hàng… - Dịch vụ cảng biển Theo quan niệm truyền thống, nhiệm vụ chính của cảng là xếp dỡ hàng hoá.
Hiện nay, các lĩnh vực kinh doanh của cảng được mở rộng, ngoài việc xếp dỡ hàng hoá cảng còn thay mặt chủ tàu, chủ hàng làm nhiều dịch vụ khác liên quan đến hàng hoá như phân phối và giám sát việc vận chuyển hàng hoá đến tận tay người tiêu 5 dùng cuối cùng, trở thành trung tâm logistics. Trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam chưa đưa ra một khái niệm chung nào về dịch vụ cảng biển. Do đặc điểm chung của loại hình dịch vụ cũng như tính đa dạng, phức tạp của các loại hình dịch vụ nói chung và dịch vụ cảng biển nói riêng, cộng với cách giải thích khác nhau giữa các quốc gia nên việc đưa ra định nghĩa chung nhất cho loại hình dịch vụ này càng khó khăn. Có nhiều ý kiến cho rằng:“ Dịch vụ cảng biển là những dịch vụ liên quan đến việc phục vụ và khai thác hoạt động cảng biển”.
Dưới đây là quan niệm về dịch vụ cảng biển trên phạm vi bao quát của Tổ chức thương mại thế giới WTO, Liên minh Châu Âu EU và của Việt Nam. + Theo WTO: Tại vòng đàm phán Uruguay, Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ GATS đã được đưa ra thương thảo lần đầu tiên. Hiệp định này đưa ra khái niệm về các lĩnh vực dịch vụ bằng cách liệt kê các ngành, phân ngành, nhóm, phân nhóm. Danh sách phân loại các ngành dịch vụ vận tải được WTO chính thức đưa ra vào ngày 10/7/1991.
Ở danh mục ngành số 11 – Dịch vụ vận tải, trong mục “A” là dịch vụ vận tải biển, thì ngoài vận tải hành khách và vận tải hàng hoá, các dịch vụ còn lại đều được xem là dịch vụ cảng biển. Riêng đối với mục “Af”, việc cụ thể hóa các loại hình có trong dịch vụ này do các thành viên tự soạn thảo. Như vậy, WTO không đưa ra khái niệm cụ thể về dịch vụ cảng biển mà chỉ xác định vị trí dịch vụ cảng biển nằm trong nhóm dịch vụ vận tải biển, xem nó như một phần của dịch vụ vận tải biển.1: Dịch vụ vận tải biển theo phân loại của WTO Ngành Số phân loại trung tâm CPC 11. DỊCH VỤ VẬN TẢI A.
Dịch vụ vận tải biển a. Vận tải hành khách 7211 b. Vận tải hàng hóa 7212 c. Cho thuê tàu có kèm thủy thủ 7213 d.
Bảo dưỡng và sửa chữa tàu 8868 6 Ngành Số phân loại trung tâm CPC e. Lai dắt và kéo tàu 7214 f. Các dịch vụ hỗ trợ 745 - Trợ giúp dẫn đường 7451 - Chỉ huy cho tàu trong cảng, kiểm đếm, giao 7452 nhận hàng hóa - Thả neo, bỏ neo và cập bến 7453 - Thu gom rác, hủy bỏ chất thải nặng 7454 - Xếp dỡ, khai thác kho bãi 7459 - Cung cấp lương thực, nhiên liệu, nước 7459 - Các dịch vụ hỗ trợ khác 7459 Nguồn: WTO Secretariat + Theo EU: Trong lộ trình thực hiện GATS, EU đã gửi các bản yêu cầu tới các thành viên, chi tiết hoá các loại hình hỗ trợ cho vận tải biển kèm theo các định nghĩa như sau: • Dịch vụ xếp dỡ hàng hoá: là dịch vụ thực hiện bởi các công ty xếp dỡ, kể cả công ty điều độ kho bãi nhưng không bao gồm các dịch vụ do lực lượng công nhân bốc xếp ở bến cảng trực tiếp thực hiện khi lực lượng này được tổ chức độc lập với các công ty xếp dỡ và điều độ bãi. Dịch vụ này bao gồm việc tổ chức và giám sát quá trình: 1) Xếp hàng hoá vào và dỡ hàng hoá ra khỏi tàu; 2) Xếp hàng hoá vào và dỡ hàng hoá ra khỏi sà lan; 3) Nhận hàng hoặc gửi hàng và bảo quản hàng hoá an toàn trước khi gửi hàng hoặc sau khi dỡ hàng.
- Dịch vụ lưu kho hàng hoá: là dịch vụ cho thuê kho bãi để chứa hàng tại khu vực cảng. • Dịch vụ khai báo hải quan (hay dịch vụ môi giới hải quan): là dịch vụ trong đó một bên thay mặt một bên khác làm các thủ tục hải quan liên quan đến việc xuất, nhập khẩu hoặc vận tải hàng hoá. 7 • Dịch vụ kinh doanh kho, bãi container: là dịch vụ lưu bãi container tại khu vực cảng hoặc nội địa nhằm mục đích đóng hàng vào và dỡ hàng ra khỏi container, sửa chữa và chuẩn bị container sẵn sàng cho việc vận chuyển. • Dịch vụ đại lý hàng hải: là dịch vụ làm đại lý đại diện cho quyền lợi thương mại của một hay nhiều hãng tàu trong khu vực địa lý xác định nhằm các mục đích sau: 1) Thay mặt hãng tàu thực hiện việc marketing và kinh doanh dịch vụ vận tải và các dịch vụ liên quan từ việc báo giá đến việc lập hoá đơn, phát hành vận đơn, nhận và kinh doanh lại các dịch vụ cần thiết, chuẩn bị chứng từ, cung cấp thông tin thương mại; 2) Thay mặt hãng tàu thu hồi tàu và tiếp nhận hàng hoá khi có yêu cầu.
+ Theo Việt Nam: Theo quy định tại Điều 1 của Nghị định số 10/2001/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 19/3/2001 về điều kiện kinh doanh dịch vụ hàng hải thì dịch vụ hàng hải bao gồm 9 loại hình sau đây: • Dịch vụ đại lý tàu biển: là dịch vụ thực hiện các công việc sau đây theo sự uỷ thác của chủ tàu: 1) Làm thủ tục cho tàu vào và ra cảng với các cơ quan có thẩm quyền; 2) Thu xếp tàu lai dắt; thu xếp hoa tiêu dẫn tàu; bố trí cầu bến, nơi neo đậu tàu để thực hiện việc bốc, dỡ hàng hoá; đưa, đón khách lên, xuống tàu; 3) Thông báo những thông tin cần thiết cho các bên có liên quan đến tàu, hàng hoá và hành khách, chuẩn bị các tài liệu, giấy tờ về hàng hoá và hành khách, thu xếp giao hàng cho người nhận hàng; 4) Làm các thủ tục hải quan, biên phòng có liên quan đến tàu và các thủ tục về bốc dỡ hàng hoá, hành khách lên, xuống tàu; 5) Thực hiện việc thu hộ, trả hộ tiền cước, tiền bồi thường, thanh toán tiền thưởng, phạt giải phóng tàu và các khoản tiền khác; 6) Thu xếp việc cung ứng cho tàu biển tại cảng; 7) Ký kết hợp đồng thuê tàu, làm thủ tục giao nhận tàu và thuyền viên; 8) Ký kết hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bốc dỡ hàng hoá; 8 9) Thực hiện các thủ tục có liên quan đến tranh chấp hàng hải; 10) Giải quyết các công việc khác theo uỷ quyền.