Chương 1: Những vấn đề liên quan đến dịch vụ bảo hiểm, phát triển dịch vụ bảo hiểm tại các doanh nghiệp bảo hiểm Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ bảo hiểm tại Công ty bảo hiểm MIC Hải Phòng Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm tại Công ty bảo hiểm MIC Hải Phòng đến năm 2020 5 1CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN DỊCH VỤ BẢO HIỂM, PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 1. Những vấn đề liên quan đến dịch vụ bảo hiểm 1. Khái niệm về dịch vụ bảo hiểm Trước hết cần hiểu dịch vụ là định nghĩa chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả chúng không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể. Hoạt động của dịch vụ bao quát lên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân như ngành du lịch, ngành ngân hàng, ngành vận tải, thương mại, bảo hiểm, ngành bưu chính viễn thông, bảo vệ môi trường, dịch vụ tài chính, dịch vụ tư vấn… Như vậy ta có thể đưa ra định nghĩa một cách chung nhất về dịch vụ: “Dịch vụ là hoạt động mang tính chất xã hội, các sản phẩm hàng hóa được tạo ra không tồn tại dưới hình thái vật thể, vật chất cụ thể nhằm thỏa mãn một cách kịp thời, thuận tiện và hiệu quả hơn nhu cầu sản xuất đời sống và con người.” Thông qua sự hiểu biết về khái niệm dịch vụ, ta có thể có định nghĩa tổng quát về dịch vụ bảo hiểm: “ Dịch vụ bảo hiểm là tất cả các sản phẩm mà người bảo hiểm cung cấp cho người được bảo hiểm.” Theo hiệp định chung về thương mại trong lĩnh vực dịch vụ (GATS) nhóm dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan tới bảo hiểm gồm có BH nhân thọ và phi nhân thọ, tái bảo hiểm, trung gian BH (trong trung gian bảo hiểm gồm có): môi giới bảo hiểm và các đại lý BH), các dịch vụ hỗ trợ cho bảo hiểm như tư vấn và tính toán rủi ro.
Cũng như các ngành dịch vụ khác, dịch vụ bảo hiểm cung cấp cho khách hàng sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình, không có trọng lượng, kích thước, hình dáng… Sản phẩm của ngành dịch vụ bảo hiểm là sản phẩm đặc biệt. Khách hàng mua bảo hiểm nhằm mục đích đề phòng khi sự kiện được bảo hiểm xảy ra các rủi 6 ro, biến cố và khách hàng vẫn đảm bảo được sự an toàn về mặt tài chính, qua đó ổn định được quá trình sản xuât kinh doanh cũng như đời sống sinh hoạt. Các đối tượng tham gia trong dịch vụ bảo hiểm bao gồm: người cung cấp dịch vụ bảo hiểm (là các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm), người mua bảo hiểm (khách hàng) và các tổ chức trung gian. Người cung cấp dịch vụ bảo hiểm (Insurer or underwriter): là các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm được pháp luật công nhận, là người ký hợp đồng bảo hiểm với khách hàng, được hưởng phí bảo hiểm theo thỏa thuận và cam kết bồi thường cho người mua bảo hiểm những tổn thất do rủi ro được bảo hiểm là nguyên nhân trực tiếp gây ra.
Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo hiểm hiện nay tại điều 59 Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam gồm có: doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước, doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, tổ chức bảo hiểm tương hỗ và doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài. Người được bảo hiểm (insured): là các tổ chức hay cá nhân có tài sản hay trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật, tính mạng hay tình trạng sức khỏe cần phải tham gia bảo hiểm sẽ trực tiếp thông qua các doanh nghiệp bảo hiểm, qua người môi giới bảo hiểm để mua các sản phẩm bảo hiểm. Người được bảo hiểm là người mua bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm, là người có tên trên hợp đồng bảo hiểm hay là người được hưởng lợi theo hợp đồng bảo hiểm. Tổ chức trung gian hay là người môi giới (broker), đại lý (agent) là cầu nối giữa người mua bảo hiểm và người bán bảo hiểm.
Môi giới bảo hiểm ở đây có thể là các tổ chức, doanh nghiệp hay cá nhân đứng ra thu xếp bảo hiểm giữa người mua bảo hiểm và các doanh nghiệp bảo hiểm. Họ sẽ tư vấn về các vấn đề như nhu cầu bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm, thị trường bảo hiểm, các vấn đề liên quan khiếu nại, kiện tụng… Môi giới bảo hiểm có thể là người đại diện cho doanh nghiệp bảo hiểm và người được bảo hiểm. 7 Đại lý bảo hiểm có thể là tổ chức, công ty hay các cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền dựa trên cơ sở hợp đồng đại lý. Đại lý bảo hiểm sẽ là người thay mặt doanh nghiệp bảo hiểm bán các sản phẩm bảo hiểm của doanh nghiệp và được hưởng hoa hồng hay lương và các chế độ theo thỏa thuận của doanh nghiệp.
Phân loại các sản phẩm dịch vụ bảo hiểm Có nhiều hình thức bảo hiểm khác nhau. Căn cứ vào các cách phân loại ta có các hình thức bảo hiểm cụ thể sau : * Căn cứ vào cơ chế hoạt động của bảo hiểm Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước. Chính sách bảo hiểm xã hội đã được thể chế hoá và thực hiện theo Luật. BHXH là sự chia sẻ rủi ro và các nguồn quỹ nhằm bảo vệ người lao động khi họ không còn khả năng làm việc.
Mục tiêu của bảo hiểm xã hội là bảo đảm, thay thế hay bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất, giảm các khoản thu nhập từ nghề nghiệp mà nguyên nhân là do bị mất hay giảm khả năng lao động hay bị mất việc làm do những rủi ro từ xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, qua đó góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Chính vì thế, đối tượng của bảo hiểm xã hội chính là thu nhập của người lao động bị biến động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những người lao động tham gia BHXH. Đối tượng tham gia trong bảo hiểm xã hội chính là người lao động và người sử dụng lao động. Tuy nhiên căn cứ theo theo sự phát triển của mỗi quốc gia mà đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội có thể là tất cả người hay một bộ phận những người lao động.
Căn cứ theo pháp luật thì bảo hiểm xã hội là một quy định bắt buộc để bảo vệ người lao động và sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được 8 bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động hay chết. Tất cả các điều này đều được quy định rất rõ và cụ thể trong luật bảo hiểm xã hội của mỗi quốc gia. Quỹ bảo hiểm xã hội để chi cho các chế độ trợ cấp và quản lý phí được hình thành từ đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và nguồn hỗ trợ của Nhà nước. Ngoài ra, Quỹ bảo hiểm xã được chính phủ mỗi quốc gia bảo hộ để tồn tại và phát triển theo các cách khác nhau.
Mục đích chính của các chế độ bảo hiểm xã hội là trợ cấp một phần tài chính cho người bảo hiểm khi người đó gặp rủi ro đã được quy định trong luật. Căn cứ theo công ước Gionevo (Công ươc số 102) kí ngày 04/06/1952 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), quĩ bảo hiểm xã hội được sử dụng để trợ cấp trong các trường hợp: Chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp khi tàn phế… Theo điều 2 điều lệ bảo hiểm xã hội Việt Nam, bảo hiểm xã hội nước ta hiện nay gồm 5 chế độ: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp hưu trí, trợ cấp tử tuất. Bảo hiểm thương mại Bảo hiểm thương mại là loại hình bảo hiểm được thực hiện bởi các tổ chức doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường bảo hiểm thương mại. Bảo hiểm thương mại chỉ các hoạt động mà tại đó các doanh nghiệp bảo hiểm nghiên cứu chấp nhận các rủi ro trên cơ sở người mua bảo hiểm nộp một khoản tiền (gọi là phí bảo hiểm) để doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm bồi thường hay trả tiền khi các rủi ro đã được thỏa thuận theo hợp đồng xảy ra Nội dung của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, bên cạnh mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm với khách hàng của mình (gọi là người được bảo hiểm) còn có mối quan hệ giữa người bảo hiểm gốc và người nhận tái bảo hiểm khi thực hiện 9 tái bảo hiểm và bao gồm cả hoạt động của các tổ chức trung gian như: môi giới, đại lý.
Hoạt động bảo hiểm thương mại được tạo ra bởi sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít trên cơ sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất rủi ro. Khi số người tham gia càng đông, tổn thất sẽ càng được phân tán ra, rủi ro càng giảm thiểu xuống mức thấp nhất thể hiện bằng việc mức phí bảo hiểm phải đóng sẽ là nhỏ nhất đủ để mỗi người đó không ảnh hưởng gì quan trọng đến hoạt động sản xuất của mình. Điều này cũng thể hiện nguyên tắc cơ bản nhất của bảo hiểm đó là nguyên tắc hoạt động theo quy luật số đông. Bên cạnh đó, số người tham gia vào cộng đồng bảo hiểm càng lớn thể hiện nhu cầu bảo hiểm càng tăng theo xu hướng phát triển của nền kinh tế xã hội, những người bảo hiểm không thể và cũng không cần thiết phải biết nhau biết nhau họ chỉ cần biết người quản lý cộng đồng là người nhận phí bảo hiểm (chính là doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm) và cam kết họ sẽ được bồi thường khi có bất cứ rủi ro tổn thất xảy ra theo hợp đồng bảo hiểm đã ký.