Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM 1. Lý luận về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm 1. Khái quát về điều kiện kinh doanh Điều kiện kinh doanh là một trong những vấn đề pháp lý quan trọng mà hầu hết pháp luật các quốc gia trên thế giới đều quy định. Nội dung điều kiện kinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường kinh doanh cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Về mặt thuật ngữ, dường như không có sự thống nhất về “điều kiện kinh doanh”. Theo từ điển Tiếng Việt, “điều kiện” được hiểu là cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra. Hoặc cũng có thể hiểu “điều kiện” còn là điều nêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một công việc nào đó. Còn “kinh doanh” là các hoạt động đầu tư, sản xuất, mua bán, cung ứng dịch vụ do các chủ thể kinh doanh tiến hành một cách độc lập, thường là mục đích tạo ra lợi nhuận.
Một số ý kiến khác của các nhà nghiên cứu cho rằng “Điều kiện kinh doanh là mọi sự can thiệp của cơ quan hành chính vào quyền tự do kinh doanh của người dân, thường được cụ thể hóa bằng những hành vi của nhân viên hành chính có quyền chấp nhận, hạn chế hoặc khước từ việc đăng kí hoặc tổ chức những hoạt động kinh doanh cụ thể”. Trong đó, hành vi hành chính có thể biểu hiện ở nhiều dạng thức khác nhau như thông qua một văn bản pháp quy ấn định những hạn chế cho người kinh doanh, thông qua hành vi cấp phép chấp thuận hoặc từ chối của cơ quan hành chính, thông qua hành vi giám sát của cơ quan hành chính về việc tuân thủ điều kiện kinh doanh. Như vậy, theo cách hiểu thông thường, về bản chất điều kiện kinh doanh là những yêu cầu, đòi hỏi của Nhà nước mà chủ thể kinh doanh phải có hay phải thực hiện trước khi tiến hành các hoạt động kinh doanh nhất định như sản 7 xuất, phân phối, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận. Vì vậy, với tính chất là một hình thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh, điều kiện kinh doanh sẽ được nhìn nhận với tính chất là công cụ quản lý của Nhà nước.
Ở Việt Nam, tại Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, mặc dù không quy định trực tiếp về “điều kiện kinh doanh”, nhưng những yêu cầu của Nhà nước đối với các chủ thể kinh doanh cũng đã tồn tại. Ở thời kỳ này, trước khi bắt đầu hoạt động kinh doanh, tổ chức hoặc cá nhân phải “xin phép” Nhà nước, thể hiện dưới hình thức “Giấy phép thành lập công ty” trước khi tiến hành kinh doanh và Công ty có nghĩa vụ kinh doanh ngành nghề theo giấy phép. Có thể thấy, các quy định của pháp luật thời kỳ này thể hiện rõ quan điểm rằng, doanh nghiệp chỉ được kinh doanh những gì mà Nhà nước cho phép. Thuật ngữ “điều kiện kinh doanh” được sử dụng trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 và gắn liền với nó là danh mục các ngành, nghề mà luật, pháp lệnh hoặc nghị định quy định phải có điều kiện.
Và tại Điều 5 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP ngày 03/2/2000 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 1999, danh mục các ngành, nghề mà luật, pháp lệnh hoặc nghị định quy định phải có điều kiện được gọi là “Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện”. Đây cũng là lần đầu tiên thuật ngữ “Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện” được quy định tại một văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 1999 chưa có quy định tiêu chí xác định điều kiện kinh doanh mà được thể hiện dưới hình thức là “Giấy phép kinh doanh” hoặc là các quy định pháp luật khác như “có đủ điều kiện kinh doanh theo quy định”. Đối với các điều kiện kinh doanh phải có giấy phép, doanh nghiệp chỉ được thực hiện kinh doanh sau khi có giấy phép.
Đối với các điều kiện kinh doanh không cần phép, doanh nghiệp được quyền kinh doanh ngành, nghề đó kể từ khi có đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định và cam kết thực hiện đúng các điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh. Theo đó, 8 Luật Doanh nghiệp năm 1999 xác định rõ chỉ có Quốc hội (ban hành Luật), Ủy ban Thường vụ Quốc hội (ban hành Pháp lệnh), Chính phủ (ban hành Nghị định) mới có thẩm quyền quy định ngành, nghề cấm kinh doanh, ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh đối với ngành, nghề đó. Các Bộ, Ủy ban nhân dân không được quyền ban hành quy định về cấm và kinh doanh có điều kiện. Tại Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: “Điều kiện đầu tư kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện đầu tư kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác.
Tuy nhiên, cách giải thích về điều kiện kinh doanh tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 mới chỉ trên cơ sở liệt kê các hình thức pháp lý mà chưa nêu được bản chất của điều kiện kinh doanh. Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng quy định cụ thể trách nhiệm của Chính phủ trong việc đánh giá, rà soát lại các điều kiện kinh doanh để từ đó bãi bỏ hoặc kiến nghị bãi bỏ các điều kiện không còn phù hợp, sửa đổi các điều kiện kinh doanh không còn hợp lý; ban hành hoặc kiến nghị ban hành điều kiện kinh doanh mới. Đồng thời, Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng quy định cấm việc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh. Tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014: Điểm mới quan trọng của Luật Doanh nghiệp năm 2014 là điều kiện kinh doanh và ngành, nghề kinh doanh có điều kiện đã được chuyển sang phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư năm 2014 và thuật ngữ “điều kiện kinh doanh” được thay thế bằng thuật ngữ “điều kiện đầu tư kinh doanh” và thuật ngữ “ngành, nghề kinh doanh có điều kiện” được thay thế bằng thuật ngữ “ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện”.
9 Luật Đầu tư năm 2014 quy đinh: “ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Đồng thời, khoản 4 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014 cũng giải thích: “Điều kiện đầu tư kinh doanh phải được quy định phù hợp với mục tiêu quy định tại khoản 1 Điều này và phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, tiết kiệm thời gian, chi phí tuân thủ của nhà đầu tư”. Thuật ngữ “điều kiện đầu tư kinh doanh” chỉ được giải thích mang tính viện dẫn tại Nghị định số 118/2015/NĐ-CP, theo đó, điều kiện đầu tư kinh doanh là “điều kiện mà cá nhân, tổ chức phải đáp ứng theo quy định của luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế về đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh trong các ngành, nghề quy định tại Phụ lục 4 Luật Đầu tư”. Có thể thấy, mặc dù Luật Đầu tư năm 2014 không trực tiếp đưa ra cách giải thích về điều kiện đầu tư kinh doanh, nhưng bằng các quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và cách thức xây dựng, ban hành một điều kiện đầu tư kinh doanh, các quy định đã cho thấy khái niệm chung nhất về “điều kiện đầu tư kinh doanh”.
Theo đó, có thể hiểu là các yêu cầu mà Nhà nước đặt ra vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng mà doanh nghiệp buộc phải tuân thủ trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư và kinh doanh của mình. Các quy định này đã phần nào làm rõ được mục tiêu cũng như các yêu cầu cần có của quá trình xây dựng và ban hành một điều kiện đầu tư kinh doanh. Luật Đầu tư năm 2014 đã kế thừa Luật Doanh nghiệp năm 1999 khi quy định về hai hình thức của các điều kiện đầu tư kinh doanh gồm điều kiện đầu tư kinh doanh phải có một văn bản chấp thuận nào đó của Nhà nước và các điều kiện đầu tư kinh doanh không cần phải có văn bản chấp thuận mà chỉ cần tuân thủ các quy định hiện hành. Đồng thời, doanh nghiệp phải đáp 10 ứng các điều kiện đầu tư kinh doanh trước thời điểm bắt đầu hoạt động kinh doanh và phải duy trì điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động.
Nói cách khác, các điều kiện kinh doanh là các yêu cầu của Nhà nước mà doanh nghiệp phải duy trì từ lúc bắt đầu kinh doanh và trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Như vậy, từ các góc độ tiếp cận nêu trên, có thể hiểu, điều kiện kinh doanh là những yêu cầu mang tính bắt buộc của Nhà nước áp dụng đối với một hoạt động kinh doanh cụ thể nhằm mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Khái quát về kinh doanh bảo hiểm Nhu cầu an toàn đối với các cá nhân và tổ chức trong xã hội là vĩnh cửu. Lúc nào con người cũng tìm cách để bảo vệ chính bản thân và tài sản của mình trước những bất hạnh của số phận và những biến cố bất ngờ xảy ra trong sản xuất kinh doanh.
Ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện các tổ chức gần giống với bảo hiểm, chẳng hạn người Ba-Bi-Lon đã đưa ra những quy tắc tổ chức phương tiện vận tải bằng xe kéo để phân chia các thiệt hại do mất cắp và bị cướp cho các thương gia cùng gánh chịu. Hoặc vào thế kỷ thứ V trước công nguyên, Pê- Ri-Gex đã tổ chức Hội đoàn tương hỗ nhằm trợ giúp cho các thành viên và gia đình của họ trong các trường hợp bị tử vong, ốm đau, bệnh tật hay hoả hoạn. Sang thời Trung cổ, các quy tắc về bảo hiểm hàng hải đã bắt đầu được hình thành, song phải đến năm 1347 bản hợp đồng bảo hiểm đầu tiên mới được ký kết tại Gênes.