Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo nghề. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng công tác đào tạo nghề tại Trƣờng Cao đẳng Du lịch và Thƣơng mại. Chương 4: Giải pháp phát triển công tác đào tạo nghề tại Trƣờng Cao đẳng Du lịch và Thƣơng mại.
Kết luận 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Cơ sở lý luận về nghề và công tác đào tạo nghề 1. Khái niệm nghề Nói đến khái niệm nghề, có rất nhiều cách thức tiếp cận khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt: “Nghề là công việc chuyên làm theo phân công lao động trong xã hội”.
Với cách tiếp cận này, mỗi ngƣời trong hệ thống phân công lao động xã hội sẽ đảm nhận một hoặc một số công việc, những công việc này lặp đi lặp lại thƣờng xuyên, từ ngày này sang ngày khác, nội dung của những công việc đó không hoặc ít thay đổi, và nó đƣợc hiểu là nghề. Nghề, cũng có thể đƣợc hiểu là một hình thức phân công lao động, nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định1. Nhƣ vậy, nghề là một thuật ngữ để chỉ một hình thức lao động trong xã hội. Để có thể làm đƣợc một nghề, ngƣời lao động cần phải có kiến thức về lý thuyết của một hoặc một vài môn khoa học nào đó, những kỹ năng thực hành đến mức thành thạo.
Thông qua quá trình lao động của mỗi ngƣời lao động đối với nghề của mình, họ sẽ hoàn thành công việc mà nghề đó yêu cầu, từ đó tạo ra đƣợc những sản phẩm vật chất và tinh thần, phục vụ cho bản thân họ, cho gia đình họ và cho toàn xã hội. Tóm lại, nghề là tổng hợp những kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng lao động mà con ngƣời tiếp thu đƣợc do kết quả của đào tạo chuyên môn và tích luỹ kinh nghiệm trong công việc. 1 Giáo trình kinh tế lao động trang 55- Phạm Đức Thành và Mai Văn Chánh 5 1. Đặc trưng của nghề Đã là nghề, cho dù đƣợc hiểu theo cách thức nhƣ thế nào thì nó cũng có những đặc trƣng cơ bản nhƣ sau: • Là một công việc chuyên làm.
• Là phƣơng tiện sinh sống gắn với cả cuộc đời hoặc phần lớn cuộc đời của ngƣời lao động. • Bao gồm cả lao động trí óc và lao động chân tay. ▪ Phù hợp với yêu cầu của xã hội. • Có rất nhiều nghề, giữa các nghề có thể có mối quan hệ với nhau, cũng có thể chúng độc lập với nhau.
Có thể nói, nghề gắn liền với kiến thức và kinh nghiệm, nói đến một nghề là phải nói đến hiểu biết và sự thành thạo của ngƣời lao động đối với công việc của nghề. Những kiến thức và kinh nghiệm đó không phải tự nhiên có đƣợc mà là do kết quả của đào tạo và tích luỹ kinh nghiệm. Nói đến nghề, là nói đến một hoặc một số những công việc nào đó trong hệ thống phân công lao động xã hội, nhƣng nói đến nghề nghiệp, là nói đến một cái gì đó rất cụ thể, bởi vì đó là nghề của một ngƣời lao động. Với nghề này, ngƣời lao động đó đang thực hiện những nội dung công việc cụ thể, đem kiến thức và kỹ năng của họ thực hiện công việc, tạo ra của cải vật chất và tinh thần.
Hiện nay, Nhà nƣớc rất khuyến khích và tạo điều kiện để mọi ngƣời phát triển nghề nghiệp, điều này đã đƣợc quy định rất rõ trong Bộ luật Lao Động của nƣớc Cộng Hoà Xã Hội chủ nghĩa Việt Nam: “mọi ngƣời đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngƣỡng, tôn giáo” (Điều 5- bộ Luật Lao động) “mọi ngƣời có quyền tự do lựa chọn nghề và nơi học nghề phù hợp với nhu cầu việc làm của mình” (Điều 20- bộ Luật Lao động). 6 Lựa chọn nghề nghiệp đúng sẽ là cơ sở quan trọng cho sự thành đạt của mỗi ngƣời lao động vì nó tạo ra sự cuốn hút, say mê trong quá trình làm việc. Xã hội có rất nhiều nghề và cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, nhiều ngành nghề mới sẽữ xuất hiện và cũng có những ngành nghề sẽ phải mất đi; nghề đang làm trong hiện tại là phù hợp, nhƣng không thể nói trƣớc đƣợc rằng nó vẫn còn là phù hợp trong tƣơng lai. Điều đó cũng góp phần giải thích vì sao nhiều ngƣời phải chuyển nghề sau một thời gian làm việc hoặc phải đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao trình độ lành nghề của bản thân 1.
Khái niệm đào tạo Là quá trình có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động xã hội (nghề nghiêp) cần thiết. Đào tạo cũng có thể đƣợc hiểu là quá trình học tập nhằm giúp cho ngƣời lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho ngƣời lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của ngƣời lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn. Nhƣ vậy, đào tạo là sự phát triển có hệ thống những kiến thức và kỹ năng mà mỗi cá nhân có để thực hiện đúng một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể nào đó hoặc đào tạo nhấn mạnh vào mặt phát triển và rèn luyện năng lực, tạo tiền đề để cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả.
Khái niệm đào tạo nghề Với cách tiếp cận về nghề và đào tạo nghề nhƣ trên, ta có thể hiểu: “Đào tạo nghề là quá trình có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của một nghề nào đó, từ đó tạo ra năng lực để thực hiện thành công nghề đã đƣợc đào tạo”. Thông qua quá trình đào tạo nghề, học sinh sẽ đƣợc học hệ thống những kiến thức (hiểu biết) về lý thuyết cần thiết của nghề, đƣợc thực hành 7 trong thực tế để hình thành kỹ năng, kỹ xảo của nghề, đồng thời họ còn đƣợc giáo dục và phát triển cả thái độ, ý thức đối với nghề trong tƣơng lai của bản thân họ. Sau khoá học đào tạo nghề này, ngƣời lao động sẽ nắm vững một nghề, một chuyên môn, quá trình đào tạo nghề sẽ đƣợc thực hiện với cả những ngƣời đã có nghề, có chuyên môn rồi hoặc học để làm nghề, chuyên môn khác. Phân loại đào tạo nghề (1).
Căn cứ thời gian đào tạo nghề ▪ Đào tạo ngắn hạn: có thể đƣợc thực hiện 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng hoặc 1 năm tại các trung tâm dạy nghề, lớp dạy nghề độc lập hoặc gắn với cơ sở kinh doanh, dịch vụ và cơ sở giáo dục khác. Quá trình đào tạo ngắn hạn tổ chức theo hình thức học lý thuyết và thực hành theo lớp, kèm cặp tại xƣởng, tại nhà, lấy thực hành là chính, vừa học, vừa làm, chuyển giao công nghệ; đƣa kiến thức khoa học, công nghệ mới và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến. Đào tạo nghề ngắn hạn dành cho những ngƣời có trình độ học vấn và sức khoẻ phù hợp với nghề cần học. Các khóa học ngắn hạn sẽ cung cấp đầy đủ các yêu cầu kỹ năng, kiến thức của một nghề nhƣng ở trình độ thấp.
Bên cạnh đó, còn có các khoá học ngắn hạn chỉ cung cấp một phần nội dung của nghề nghiệp, hoặc chỉ có tác dụng bổ trợ. Mỗi ngƣời có thể theo học nhiều khoá học ngắn hạn để tích luỹ dần kiến thức nghề nghiệp cho mình hoặc để bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng mới. Thông tin về các khoá học ngắn hạn này có thể thấy trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng hoặc trên bảng thông báo ngay ở cơ sở đào tạo. ▪ Đào tạo dài hạn: đƣợc thực hiện từ 1 đến 3 năm tại các trƣờng dạy nghề, các trƣờng trung học chuyên nghiệp, trƣờng Cao đẳng, trƣờng Đại học có đủ điều kiện để tổ chức dạy nghề dài hạn.
Đào tạo dài hạn thƣờng cung cấp đầy đủ kiến thức, kỹ năng cơ bản để thực hiện một nghề nào đó. Sau khi kết 8 thúc khoá học dài hạn, ngƣời lao động sẽ cơ bản có đủ hành trang để khởi đầu nghề nghiệp của mình. Đào tạo dài hạn có ƣu điểm là tính liên tục cao nên ngƣời học có thể tiếp nhận các kiến thức, kỹ năng một cách hệ thống, bài bản và cũng thuận lợi hơn khi muốn học tập để nâng cao trình độ. Căn cứ trình độ đào tạo nghề Trình độ đào tạo nghề là chuẩn mực kỹ thuật hoặc nghiệp vụ theo mức độ khác nhau, đƣợc quy định theo các căn cứ khoa học thống nhất.
Bao gồm: ٭Trình độ bán lành nghề: đƣợc trang bị một số kiến thức, kỹ năng nghề nhất đinh. Tổ chức đào tạo cấp trình độ này nhằm cung cấp lao động cho nhu cầu phát triển ngành nghề giản đơn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, chuyển đổi cơ cấu lao động tại chỗ, phát triển kinh tế trang trại, kinh tế gia đình và phát triển cơ hội có việc làm cho ngƣời lao động. Tỷ trọng lao động đƣợc đào tạo ở cấp trình độ này sẽ giảm dần trong kế hoạch đào tạo, song vẫn chiếm phần lớn trong tổng số lao động đƣợc đào tạo hàng năm. ٭Trình độ lành nghề: ngƣời học đƣợc trang bị đầy đủ kiến thức lý thuyết tổng hợp và kỹ năng thực hành chuyên sâu, giúp họ có khả năng đảm nhận đƣợc những công việc phức tạp.
Lao động đƣợc đào tạo ở cấp trình độ này chủ yếu để phục vụ nhu cầu sử dụng của các khu công nghiệp, khu chế xuất, những dây chuyền sản xuất sử dụng công nghệ cao, phục vụ nhu cầu xuất khẩu và chuyên gia. ٭Trình độ cao: không những ngƣời học có đƣợc hệ thống lý thuyết và kỹ năng thực hành đầy đủ mà họ còn đƣợc tiếp cận với những khoa học mới, với công nghệ tiên tiến, hiện đại từ đó họ có thể thực hiện công việc trên những thiết bị mới, những công việc cần trình độ cao và sự khéo léo. Theo yêu cầu phát triển của công nghệ sản xuất, theo xu hƣớng quốc tế, để hội nhập và cạnh tranh trên thị trƣờng lao động trong và ngoài nƣớc, trong một số lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật ở bậc trung cấp và cao đẳng.