Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển công nghiệpcủa Đảng bộ tỉnh Bắc Ninhtừ năm 2005 đến năm 2010. Chương 2: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo đẩy mạnh phát triển công nghiệp từ năm 2010 đến năm 2015. Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1:CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦAĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINHTỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010 1.
Chủ trƣơng phát triển công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh từ năm 2005 đến năm 2010 1. Những yếu tố tác động 1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế- xã hội tác động đến phát triển công nghiệp ở Bắc Ninh Đề phù hợp với tình hình, nhiệm vụ mới, tháng 11-1996, Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã đề ra Nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, trong đó chia tỉnh Hà Bắc thành hai tỉnh, Bắc Ninh và Bắc Giang. *Điều kiện tự nhiên Tỉnh Bắc Ninh là tỉnh nằm trong vùng châu thổ Sông Hồng, thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ.
Vị trí địa lý nằm trong phạm vi từ 20o 58’đến 21o 16’ vĩ độ Bắc và 105o 54’ đến 106o 19’ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang; Phía Đông và Đông Nam giáp với tỉnh Hải Dương; Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên; Phía Tây giáp thành phố Hà Nội. Diện tích tự nhiên là 822,7km2[1], là diện tích đất tự nhiên nhỏ nhất cả nước, cửa ngõ thủ đô Hả Nộ. Tỉnh Bắc Ninh nằm trong tam giác kinh tế Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh, có hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông thuận lợi, 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã và đến hầu hết các thôn, 20% số thôn, xóm có đường bê tông hoặc lát gạch.
Ngoài ra, Bắc Ninh còn nằm gần sân bay quốc tế Nội Bài (cách 30 km) gần điểm có nguồn năng lượng lớn như: Nhà máy nhiệt điện Phả Lại, than Quảng Ninh. Vị trí đó là điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế từ trong tỉnh đến các tỉnh khác thúc đẩy nền kinh tế phát triển đặc biệt là phát triển công nghiệp, dịch vụ. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Địa hình tỉnh Bắc Ninh khá bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy nước mặt đổ về sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình. Mức độ chênh lệch địa hình trên toàn Tỉnh không lớn.
Tỉnh có độ cao phổ biến từ 3-7m so với mực nước biển và một số vùng thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình,Lương Tài, Quế Võ; vùng đồi núi chiếm tỉ lệ rất nhỏ khoảng 0,53% so với tổng diện tích tự nhiên của Tỉnh và được phân bố rải rác thuộc thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Quế Võ. Các đỉnh núi có độ cao phổ biến từ 60-100m.Địa hình của Bắc Ninh thuận lợi cho phát triển sản xuất các cây lương thực, thực phẩm với năng suất cao và một số loại cây công nghiệp ngắn ngày. Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình năm là 24,0oC, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 29,4oC (tháng 7), nhiệt độ trung bình thấp nhất là 17,4 oC (tháng 1). Độ ẩm tương đối trung bình của Bắc Ninh khoảng 81%, độ chênh lệch về độ ẩm giữa các tháng không lớn, độ ẩm tương đối trung bình thấp nhất từ 72% đến 75% thường xảy ra từ tháng 10 đến tháng 12 trong năm [13].
Bắc Ninh thuộc vùng đồng bằng, được hình thành trên trầm tích sa bồi, với loại đất chủ yếu là đất phù sa tương đối màu mỡ thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với hệ thống cây trồng đa dạng. Đặc biệt là đất phù sa trong nước được bồi đắp bởi sông Cầu, sông Đuống với lượng phù sa trong nước lên đến 1,028-1,4kh/m2. Theo số liệu kiểm kê đất năm 2015, tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là 82. Diện tích lớn nhất là đất nông nghiệp chiếm 60,3%, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ chỉ với 0,7%.
Đất phi nông nghiệp chiếm 39,4% trong đó đất ở chiếm 12,4%. Diện tích đất chưa sử dụng chiếm 0,3%[13]. Hệ thống sông ngòi của tỉnh khá dày đặc. Bắc Ninh có ba hệ thống sông lớn làsông Cầu, sông Thái Bình và sông Đuống.Ngoài ra, tỉnh 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com còn có hệ thống sông nhỏ, sông nội đồng phân bố khá dày đặc .Hệ thống sông ngòi đã tạo nên một mạng lưới vận tải đường thủy quan trọng, kết nối các địa phương trong tỉnh và nối liền tỉnh Bắc Ninh với các tỉnh khác trong vùng đồng bằng sông Hồng.
Ngoài ra, chúng còn tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt của dân cư trong tỉnh. Bắc Ninh là tỉnh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu thiên về vật liệu xây dựng với các loại khoáng sản sau: đất sét, cát xây dựng và than bùn. Trong đó, đất sét được khai thác làm gạch, ngói, gốm có trữ lượng lớn được phân bổ dọc theo sông Cầu, sông Đuống thuộc phạm vi các huyện Thuận Thành, Gia Bình, Quế Võ, Yên Phòng và Tiên Du; Đất sét làm gạch chịu lửa phân bổ chủ yếu tại khu vực phường Thị Cầu, thành phố Bắc Ninh. Cát xây dựng cũng là nguồn tài nguyên chính có trữ lượng lớn của Bắc Ninh được phân bố hầu như khắp toàn tỉnh, dọc theo sông Cầu, sông Đuống.
Như vậy, Bắc Ninh là một địa phương đồng bằng có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nhất là thực hiện đa dạng hóa các mô hình sản xuất nông nghiệp để tận dụng những thế mạnh của tỉnh. *Điều kiện kinh tế-xã hội Bắc Ninh nổi tiếng là vùng quê văn hiến có truyền thống lịch sử và cách mạng vẻ vang, giàu tiềm năng đã và đang vươn lên mạnh mẽ hòa nhịp cùng sự thay đổi của đất nước. Truyền thống đó đã được phát huy mạnh mẽ khi Đảng ra đời lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc, phong kiến giành độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh tự hào là một Đảng bộ ra đời sớm ngay sau Hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.
Thời kì đổi mới, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã nhận thức rõ những đặc điểm kinh tế xã hội, những thuận lợi và khó khăn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của tỉnh để trên cơ sở đó vận dụng năng động, sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương, nhằm phát huy những nhân tố tích cực cho sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế, nâng cao mức sống người dân và giảm tỷ lệ hộ đói, nghèo. Theo kết quả điều tra năm 2015, dân số Bắc Ninh là 1.660 người, mật độ dân số 1.403 người/km², vẫn là tỉnh có mật độ dân số cao thứ 3 cả nước. Trong đó, dân cư nông thôn chiếm trên 73,4%%, dân số thành thị chiếm 26,6%[13]. Thành phần dân số này có xu hướng chuyển dịch cơ cấu tăng dân số thành thị và giảm dần dân số nông thôn.Bắc Ninh có một dân số trẻ với nhóm tuổi lao động từ 15 đến 60 là 665.236 người, chiếm 64,93% tổng dân số.
Nhóm tuổi dưới 15 có 258.780 người, chiếm 25,26% tổng dân số còn nhóm người trên 60 tuổi có 100.456 người, tức chiếm 9,8%[13]. Với đội ngũ dân số trẻ này là là lực lượng lao động hùng hậu trong cuộc phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu đội ngũ lao động ngành công nghiệp của tỉnh. Về trình độ dân trí: Bắc Ninh đạt phổ cập giáo dục tiểu học năm 1996, 100% xã đạt tiêu chuẩn xóa nạn mù chữ. Năm 2002, tỉnh đã hoàn thành phổ cập Trung học cơ sở.
Quy mô giáo dục phổ thông tăng nhanh, bình quân 100 người dân có 2,5 người đi học.Lực lượng lao động đã qua đào tạo của tỉnh chiếm khoảng 24,20% tổng số lao động (năm 2015). Hằng năm, số học sinh của tỉnh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chiếm khoảng 40% tổng số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông. Bắc Ninh từ lâu đã nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống có tuổi đời hàng trăm năm, làm ra những sản phẩm thủ công tinh xảo, độc đáo. Hiện nay, Bắc Ninh có 62 làng nghề, chủ yếu trong các lĩnh vực như đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, sản xuất giấy, gốm, sắt, thép tái chế, đúc đồng.
Các làng nghề đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho nhân dân trong tỉnh (trên 72.000 lao động thường xuyên và trên 10.000 lao động thời vụ[13]. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, những năm qua kinh tế Bắc Ninh đã được nhiều thành tựu quan trọng. Bắc Ninh nổi lên là một tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất cả nước đặc biệt là có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáng kể. Đây là những tiền đề kinh tế- xã hội quan trọng cho sự phát triển kinh tế của tỉnh.Như vậy, có thể thấy Bắc Ninh có những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thuận lợi cho phát triển kinh tế đặc biệt.Đây là điều kiện tác động lớn, là cơ sở để Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh hoạch định chủ trương, chính sách đúng đắn trong quá trình lãnh đạo phát triển công nghiệp tỉnh.
Tình hình phát triển công nghiệp ở Bắc Ninh đến trước năm 2005 Từ khi tái lập tỉnh, nền kinh tế của Bắc Ninh ở điểm xuất phát thấp, tốc độ phát triển kinh tế còn chậm, cơ cấu kinh tế còn nhiều điểm bất hợp lý. Năm 1997, GDP bình quân đầu người ở Bắc Ninh mới bằng 56,2% mức bình quân cả nước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (chiếm 46,6% GDP), công nghiệp- xây dựng chỉ chiếm 24%, dịch vụ 29,1%. Công nghiệp quốc doanh chỉ chiếm 1,8% giá trị sản xuất công nghiệp địa phương[23,tr.Bước sang giai đoạn 2001-2005, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và sự chủ động triển khai tích cực của các ngành, các cấpngành công nghiệp Bắc Ninh đã thu được một số thành tựu đáng kể so với giai đoạn 1997-2000.
Về tốc độ tăng trưởngngành công nghiệp: Giai đoạn 2001-2005 đạt mức cao, bình quân mỗi năm tăng 26,4%. Trong đó, khu vực nhà nước tăng bình quân 27,5%, công nghiệp địa phương tăng bình quân 34,8%, khu vực ngoài nhà nước tăng 37,6% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,5%. Tổng sản phẩm (GDP) tăng bình quân 14%/năm, vượt 0,5% 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mục tiêu của Đại hội đề ra. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng liên tục giá trị sản xuất tăng 2,05 lần.