phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển công nghiệp hỗ trợ Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của một số quốc gia về phát triển công nghiệp hỗ trợ Chƣơng 3: Thực trạng công nghiệp hỗ trợ ngành giầy da, dệt may, điện tử tại tỉnh Bình Dƣơng Chƣơng 4: Quan điểm, định hƣớng và giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành giầy da, dệt may, điện tử tại tỉnh Bình Dƣơng đến năm 2025 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỒ TRỢ 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI CNHT không phải là một vấn đề mới trên thế giới, rất nhiều nƣớc nhận thức rõ vai trò của nó trong phát triển kinh tế - xã hội và sớm quan tâm, xây dựng hệ thống lý thuyết, chính sách phát triển cho ngành CNHT nhƣ: Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc. Hiện nay, có một số công trình khoa học của các nƣớc nghiên cứu về CNHT dƣới các khía cạnh khác nhau mà tác giả đƣợc biết, cụ thể nhƣ sau: 1. Các công trình nghiên cứu nƣớc ngoài 1.
Các nghiên cứu mang tính lý luận về phát triển công nghiệp hỗ trợ và vai trò của công nghiệp hỗ trợ Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) (1995), “ Investigation report for industrial development: Supporting industry sector”, Tokyo. Tài liệu đã đƣa ra áo cáo điều tra phát triển công nghiệp về: “ngành Công nghiệp hỗ trợ”, áo cáo đã đánh giá vai trò quan trọng và thực trạng CNHT trong các ngành công nghiệp Nhật Bản; và kết luận về mối liên hệ, tính liên kết trong sản xuất sản phẩm cũng nhƣ những yêu cầu và điều kiện thúc đẩy CNHT Nhật Bản phát triển phục vụ cho ngành công nghiệp nói riêng, nền kinh tế Nhật Bản nói chung. Tác giả đã chỉ ra vai trò ngày càng quan trọng của CNHT trong quá trình phát triển kinh tế ở các nƣớc đang phát triển. Để thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững, các nƣớc đang phát triển cần tạo mọi điều kiện để thu hút FDI, song để thu hút đƣợc nhiều vốn FDI và sử dụng có hiệu quả nguồn FDI, các nƣớc đang phát triển chỉ có một con đƣờng duy nhất là thúc đẩy và xây dựng một nền CNHT đủ mạnh để thu hút và thẩm thấu đƣợc nguồn vốn FDI đem lại hiệu quả và sự phát triển bền vững cho nền kinh tế của các nƣớc đang phát triển.[94] Peter Larkin, the President and CEO of the National Grocers Association (NGA) (2011), “Comprehensive Supporting Industries” ThaiLand Board of Investment North America”, Supporting industries in Thailand.
Khẳng định ngành CNHT phát triển toàn diện của Thái Lan cho phép các nhà đầu tƣ, các nhà sản xuất, lắp ráp giảm thời gian, giảm chi phí và tăng hiệu quả sản xuất thông qua việc tìm nguồn cung ứng đầu vào ngay tại Thái Lan. Bài viết khẳng định một ngành CNHT 7 sôi động, hoạt động hiệu quả đã thúc đẩy nền kinh tế Thái Lan tăng trƣởng ổn định, lâu dài và bền vững. Đ y cũng chính là yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh nh m thu hút FDI của Thái Lan so với các nƣớc. Chính vì thế, từ l u Thái Lan đã đƣợc coi là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất của các nhà đầu tƣ tr n thế giới.[104] Goodwill Consultant JSC và diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) (2011), “Survey on comparision of backgrounds, polycy measuares and outcomes for development of supporting industries in ASEAN (Malaysia and Thailand in comparion with VietNam)” (Điều tra so sánh bối cảnh, biện pháp, chính sách và kết quả phát triển CNHT ở ASEAN), Publishing House of Communication and Transport, Nhà xuất bản Giao thông Vận tải.
Trong tài liệu này, các tác giả đi s u vào phân tích Malaysia và Thái Lan, là hai trong số các nƣớc ở ASEAN đã có rất nhiều chƣơng trình dành cho CNHT từ những năm 1980. Thông qua việc phân tích các vấn đề về: bối cảnh; tổ chức chính sách và các n li n quan; định nghĩa và phạm vi của CNHT; các biện pháp chính sách; ảnh hƣởng chính sách và kết quả đạt đƣợc. các tác giả đƣa ra những so sánh với Việt Nam tr n cơ sở nghiên cứu hiện trạng CNHT Việt Nam, những thành tựu và bất cập về khung chính sách. Từ đó, đƣa ra 07 phát hiện chính từ kết quả so sánh, đó là: hủng hoảng - chất xúc tác cho chính sách; tác động qua lại giữa lợi ích quốc gia và lợi ích nƣớc ngoài thời kỳ toàn cầu hóa; xúc tiến mở và xúc tiến bắt buộc; áp dụng có điều chỉnh; sự quan t m đến xúc tiến CNHT; các biện pháp chính sách và việc tổ chức thực hiện.
Từ những phân tích đó, các tác giả chỉ ra nét tƣơng đồng và sự khác biệt rất lớn về chính sách của hai quốc gia này, song dù b ng cách nào, mỗi quốc gia đều thiết lập cho mình một phƣơng thức hoạch định chính sách công nghiệp tiên tiến và Việt Nam có thể học hỏi một cách có chọn lọc từ những kinh nghiệm hác nhau nhƣng vô cùng s u sắc của hai quốc gia này. Bài viết đã ph n tích thực trạng ngành CNHT cơ hí tại Malaysia, trên các tiêu chí về khuôn mẫu và khuôn chết, gia công, công nghiệp chế tạo máy, công nghiệp cán kim loại, công nghiệp đúc, công nghiệp xử lý nhiệt, công nghiệp xử lý bề mặt…, từ đó hẳng định máy móc đã phát triển nhanh chóng trong vòng 3 thập kỷ qua song song với sự phát triển tổng thể của ngành công nghiệp sản xuất quốc gia. Malaysia đã đƣợc quốc tế công nhận về khả năng và chất lƣợng sản xuất trong rất nhiều lĩnh vực của ngành cơ hí. Từ đó đƣa ra ết luận về sự đóng góp vô cùng to lớn của ngành CNHT cơ hí cho quá trình phát triển ngành công 8 nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc d n nói chung.
Do đó, để phát CNHT cơ hí đòi hỏi phải duy trì lợi thế cạnh tranh thông qua kỹ năng học tập tiên tiến, chuyên môn, kỹ năng và inh nghiệm bao trùm những hoạt động phức tạp này, b ng cách: Giảm tổng chi phí; giảm thời gian đƣa ra thị trƣờng; theo dõi và quản lý các sản phẩm phức tạp và giới thiệu hiệu quả hơn các sản phẩm mới; quản lý hoạt động toàn cầu; dịch vụ phục vụ nhu cầu của khách hàng và nhà cung cấp nhanh chóng; thiết lập trung tâm dịch vụ giá trị cao có khả năng phát triển với sự tăng trƣởng của doanh nghiệp. Các nghiên cứu về phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ và các nghiên cứu về giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ Bộ Công thƣơng Nhật Bản (MITI, nay là Bộ Kinh tế, Công nghiệp và Thƣơng mại, METI) (1985), “White paper on Industry and Trade” (Sách trắng về hợp tác kinh tế), Tokyo. Trong cuốn sách này, thuật ngữ CNHT lần đầu ti n đƣợc nhắc đến để chỉ các DNNVV có đóng góp cho việc phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nƣớc Châu Á trong trung và dài hạn hay đó chính là các công ty sản xuất linh phụ kiện. Trong tài liệu, các tác giả đã đánh giá vai trò của các công ty sản xuất linh phụ kiện trong quá trình CNH, HĐH và phát triển các DNNVV ở các nƣớc ASEAN, đặc biệt là ASEAN 4 (gồm bốn nƣớc: Indonesia, Malaysia, Philipines và Thái Lan).
Việc thúc đẩy phát triển hệ thống các DNNVV chính là việc thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp hỗ trợ trong quá trình CNH, HĐH.[89] Goh Ban Lee (1998), “Linkage between the Multinational Corporations and Local Supporting Industries” (Liên kết giữa các tập đoàn đa quốc gia và các ngành CNHT nội địa), Đại học Sains, Malaysia. Tác giả phân tích mối quan hệ chặt chẽ trong hợp tác, ph n công lao động với các tập đoàn đa quốc gia trong việc thúc đẩy nền kinh tế Malaysia phát triển. Đó chính là việc liên kết, hợp tác trong quá trình sản xuất sản phẩm công nghiệp. Tác giả chỉ rõ tầm quan trọng của chính sách phát triển nguồn nhân lực và các chính sách hỗ trợ liên kết của Chính phủ Malaysia đối với các tập đoàn điện tử gia dụng của Nhật Bản với các doanh nghiệp nội địa trong sản xuất linh kiện cho ngành điện tử tại Malaysia.
Từ đó, chỉ ra những cơ hội thách thức, những thuận lợi hó hăn của các nhà sản xuất Nhật Bản tại Châu Á. Báo cáo phân tích thực tế quá trình sản xuất của chi nhánh thuộc các tập đoàn Nhật Bản ở Ch u Á, đặc biệt là Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã sử dụng hệ thống thầu phụ đƣợc hình thành với vai trò mạnh mẽ của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện có vốn đầu tƣ từ Nhật Bản. Đó chính là các doanh nghiệp CNHT. Hệ thống thầu phụ này cung cấp các nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng cho các nhà sản xuất, lắp ráp tại các nƣớc Ch u Á nhƣ: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, giúp cho các nƣớc này hoàn chỉnh quá trình sản xuất sản phẩm.
Tác giả đã luận giải những vấn đề: làm thế nào để các thành viên APEC cùng nhau thúc đẩy mạng lƣới SMEs hiệu quả hơn nh m hỗ trợ của các công ty sản xuất có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Dù đã có nhiều chính sách đƣợc đƣa ra nhƣng vấn đề cung cấp sản phẩm CNHT đƣợc đề cập đến nhƣ là mô hình ịp thời để giải quyết mối quan hệ lợi ích và khắc phục những hạn chế của APEC trong quá trình chuyển đổi sang suy giảm hoặc tăng trƣởng nhanh chóng. Bởi các nhà sản xuất thành phần chính sẽ tham gia vào đối thoại và đại diện phần nào cho mạng lƣới nhà cung cấp vừa và nhỏ mà họ phối hợp và do đó cần xây dựng mạng lƣới đƣợc phân biệt rõ giữa nhà cung cấp lớn hơn và nhỏ hơn, sau đó tìm cách để kết hợp lại các ý kiến về các vấn đề li n quan đến lĩnh vực chính. Michael (1990), “The competitive advantage of nations, Harvard business review” (Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia), Trƣờng Đại học Havard - New York Mỹ.
Tác giả là nhà quản trị chiến lƣợc nổi tiếng của Mỹ, trong bài viết tác giả đã ph n tích, giải thích thuật ngữ “Công nghiệp liên quan và hỗ trợ”. Tác giả phân tích khá sâu sắc thuật ngữ này thông qua việc đƣa ra lý thuyết về khả năng cạnh tranh quốc gia qua mô hình “viên kim cương”. Hƣớng nghiên cứu chính của công trình này là tạo ra một tiếp cận mới khi phân tích về lợi thế cạnh tranh quốc gia, thay vì đi tìm lời giải cho câu hỏi “Vì sao một số quốc gia thành công và những quốc gia khác thất bại trong cạnh tranh quốc tế?