CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁTRỊ NÔNG SẢN 1. Khái niệm về chuỗi gái trị nông sản Để hiểu về chuỗi giá trị nông sản, trước hết cúng ta sẽ tìm hiểu về chuỗi giá trị. Chuỗi giá trị có thể hiểu theo hai nghĩa: chuỗi giá trị hiểu theo nghĩa hẹp và chuỗi giá trị hiểu theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp của chuỗi giá trị chuỗi giá trị là chuỗi giá trị trong nội bộ một công ty là một loạt các hoạt động của các bộ phận trong công ty để sản xuất, quảng bá và phân phối một sản phẩm nhất định.
Các hoạt động này có thể tạo ra giá trị hiện thực như khâu sản xuất, đóng gói hay giá trị vô hình như khâu quảng bá sản phẩm, khâu tiếp thị. Thông qua chuỗi các hoạt động, giá trị của sản phẩm được nâng cao. Theo nghĩa rộng chuỗi giá trị được hiểu là một tập hợp những hoạt động do nhiều người, nhiều doanh nghiệp thực hiện để sản xuất một sản phẩm nào đó bán cho người tiêu dùng trong nước và nước ngoài. Các bên tham gia chuỗi giá trị theo nghĩa rộng có thể là nhà cung cấp đầu vào, người thu gom, nhà chế biến, công ty, người bán sỉ, người bán lẻ,.
nói một cách đơn giản hơn, chuỗi giá trị là : Một chuỗi các quá trình sản xuất từ đầu vào đến đầu ra. Một sự sắp xếp có tổ chức, kết nối và điều phối người sản xuất, nhóm sản xuất doanh nghiệp và nhà phân phối liên quan đến một sản phẩm cụ thể Một mô hình kinh tế trong đó kết nối việc lựa chọn sản phẩm và công nghệ thích hợp với cách thức tổ chức các tác nhân liên quan để tiếp cận thị trường. Từ định nghĩa chuỗi giá trị, ta có thể suy rộng ra thành định nghĩa chuỗi giá trị nông sản, chuỗi giá trị nông sản có có thể hiểu là một chuỗi các quá trình sản xuất từ đầu vào đến đầu ra của một sản phẩm nông sản. Mặc dù đến năm 1985 định nghĩa về chuỗi giá trị nông sản mới được công bố trong một cuốn sách được viết bởi Michael Porter, theo đó ông đã dùng nó để làm sáng tỏ việc các công ty đã sử dụng chuỗi giá trị nông sản để có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh từ đó nâng cao giá trị hàng hóa trong tổ chức của họ.
Định nghĩa dần trở nên phổ biến và được thừa nhận giữa những người làm việc trong ngành, ngày càng nhiều các tổ chức song phương và đa phương sử dụng chuỗi giá trị vào chính sách công ti để gia tăng sức phát triển. Theo định nghĩa của Michael Porter trung tâm của mô hình chuỗi giá trị nông nghiệp là các thành phần đã liên kết trong một chuỗi sản xuất và vận chuyển hàng hoá tới khách hàng thông qua chuỗi các hoạt động. Tuy nhiên, chuỗi giá trị này không đưa ra giải pháp tiếp cận chuỗi giá trị cho doanh nghiệp. Một khía cạnh quan trọng trong cách tiếp cận chuỗi giá trị là sự ảnh hưởng qua lại giữa các thành phần trong chuỗi giá trị như là nguồn cung đầu vào và tài chính, sự mở rộng hỗ trợ và môi trường thuận lợi chung.
Cách tiếp cận này trở nên hữu ích, đặc biệt là các nhà tài trợ, nó đưa ra kết quả sau khi một sự xem xét của tất cả các yếu tố ảnh hưởng sau khi người nông dân gia nhập vào chuỗi giá trị, lợi nhuận thị trường, hệ quả của sự mở rộng chuỗi dịch vụ logistic. Chuỗi giá trị nông sản được sử dụng trong cả việc nâng cấp chuỗi hiện tại và cho các nhà tài trợ để nhận diện cơ hội thị trường cho các hộ nông dân nhỏ. Tuy nhiên ngay cả khi định nghĩa về chuỗi giá trị nông sản chưa ra đời thì chuỗi giá trị nông sản vẫn tồn tại. Trong lịch sự có một chuỗi giá trị nông ản hết sức nổi tiếng: Con đường tơ lụa.
Con đường tơ lụa được hình thành từ thế kỷ 2 TCN nhưng ban đầu, con đường này được thành lập với ý định quân sự nhiều hơn mục tiêu thương mại. Muốn tìm được những đồng minh nhằm khống chế bộ lạc Hung Nô (匈奴), năm 138 TCN, vua Hán Vũ Đế đã cử Trương Khiên đi về phía Tây với chiếu chỉ ngoại giao trong tay, nhưng không may Trương Khiên đã bị chính bộ lạc Hung Nô bắt và giam giữ. Sau 10 năm bị bắt giữ, Trương Khiên trốn khỏi trại và vẫn tiếp tục nhiệm vụ, ông hành trình về Trung Á, Tây Vực. Tiếp kiến biết bao vị thủ lĩnh ở khu vực này nhưng chẳng ai chịu giúp nhà Hán cả.
Năm 126 TCN, Trương Khiên trở về nước. Tuy thất bại nhưng với những kiến thức và thông tin thu được, ông đã viết cuốn sách Triều dã kim tài trong đó đề cập đến những vùng đất ông đã đặt chân tới, vị trí địa lý, phong tục tập quán, sản vật, hàng hóa và đặc biệt là tiềm năng giao thương. Triều dã kim tài đã kích thích mạnh các thương gia Trung Hoa. Sau đó Con đường tơ lụa dần được hình thành, người Trung Hoa mang vải lụa, gấm vóc, sa, nhiễu.
đến Ba Tư và La Mã đồng thời những doanh nhân các vùng khác cũng tìm đường đến với Trung Hoa. Thời kỳ đầu, những bậc đế vương và những nhà quý tộc của La Mã thích lụa Trung Hoa đến mức họ cho cân lụa lên và đổi chỗ lụa đó bằng vàng với cân nặng tương đương. Chuyện cũng nói rằng Nữ hoàng Ai Cập Cleopatra lúc đó chỉ diện váy lụa Trung Quốc mà thôi. Chính trị thời đó cũng có ảnh hưởng lớn đến Con đường tơ lụa.
Khi nhà Hán suy vong vào thế kỷ 3, Con đường tơ lụa cũng bị đình lại. Chỉ khi nhà Đường hưng thịnh, con đường này mới phát triển trở lại. Cũng vào thời Đường, do thấy được giá trị của con đường giao thương Đông - Tây này, các vị hoàng đế đã ban hành hàng loạt những chiếu chỉ nhằm khuyến khích thương mại và cũng từ đó, những nhà truyền giáo đã bắt đầu tìm đến với phương Đông. Con đường tơ lụa dưới triều Đường đã trở thành một điểm nhấn rõ nét trong lịch sử thương mại thế giới.
Đến thế kỷ 10, nhà Đường bị lật đổ, Con đường tơ lụa cũng bị suy thoái dần. Tuy nhiên với sự hùng mạnh của đế quốc Nguyên Mông, công việc buôn bán sau đó lại thịnh vượng. Dưới triều Nguyên, một người Ý nổi tiếng là Marco Polo (1254-1324) đã lưu lạc đến Trung Quốc và làm quan ở đây 20 năm, sau đó ông trở về nước bằng Con đường tơ lụa. Ông cũng là người có đóng góp cho sự phát triển của mối giao thương Đông - Tây khi viết nên cuốn sách Marco Polo du ký (tiếng Ý: Il Milione) kể về toàn bộ quá trình lưu lạc đến phương Đông của mình trong đó có đề cập đến những chuyến hàng đầy ắp sản vật trên Con đường tơ lụa.
Nhưng đến thời nhà Minh, Con đường tơ lụa đã bị vương triều này khống chế và bắt mọi người phải nộp thuế rất cao khiến cho những thương gia phải tìm đến những con đường vận chuyển bằng đường biển. Với việc giao thương qua đường biển phát triển (hình thành Con đường tơ lụa trên biển). Từ thế kỷ thứ 7, Quảng Châu đã được xem là nơi khởi đầu của Con đường tơ lụa trên biển. Trước tiên là các thương gia Ả Rập và sau đó là Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan lần lượt kéo đến buôn bán.
Quảng Châu tràn ngập hàng hoá của nước ngoài và bản địa, Con đường tơ lụa trên bộ dần dần biến mất. Hồi chuông cáo chung của Con đường tơ lụa vang lên cũng là lúc người Ba Tư (Iran ngày nay) dần học được cách làm tơ lụa của người Trung Hoa và việc trung chuyển tơ lụa từ đó giảm hẳn do người Ba Tư tự làm và bán trực tiếp cho La Mã chứ không nhập khẩu từ Trung Hoa nữa. Toàn bộ quá trình từ sản xuất sản phẩm tơ tằm thành lụa, từ lụa đệt thành vải vóc, quần áo và vận chuyển vải vóc quần áo đến các thị trường tiêu thụ có thể gọi là một chuỗi gía trị nông sản. Qua ví dụ có thể thấy chuỗi giá trị nông sản ảnh hưởng lớn như thế nào đến việc tiêu thụ và nâng cap giá trị sản phẩm nông sản, từ sản phẩm nông sản bình thường nhất thông qua chuỗi giá trị nông sản, lụa đã có thể sánh ngang với châu báu quý giá nhất.
Vai trò của chuõi giá trị nông sản trong việc phát triển kinh tế Sau khi hiểu được chuỗi giá trị cũng như chuỗi giá trị nông sản là gì, chúng ta tiếp tục tìm hiểu xem vậy chuỗi giá trị nông sản đóng góp như thế nào trong việc phát triển nền kinh tế. Để tìm hiểu vấn đề này, chúng ta sẽ phân tích trên phương diện của từng thành phần đóng góp vào chuỗi giá trị nông sản. Một mặt hàng nông sản bình thường sẽ có sơ đồ chuỗi giá trị tương tự như mặt hàng thanh long Tiền Giang trong bảng sau: Bảng 1.1 Sơ đồ chuỗi giá trị thanh long của Tiền Giang 1. Đối với người nông dân Người nông dân là người tham gia đầu tiên vào chuỗi giá trị nông sản, là người đóng góp đầu tiên và đặt ra nền móng cho chuỗi giá trị nông sản.
Để một chuỗi giá trị nông sản thành công công sức của người nông dân không thể không nói là vô cùng lớn, một sản phẩm chế tác có tốt trước hết phải có nguyên liệu thô tốt, còn nếu ngược lại nguyên liệu thô không tốt thì dù có chế tác tốt đến đâu thì vẫn không thể trở nên hoàn hảo. Người nông dân cũng nhờ có chuỗi giá trị nông sản mà sản phẩm nâng cao giá thành, được quan tâm hơn, đầu tư nhiều hơn từ phía các doanh ngiệp cũng như phía đảng và nhà nước, việc xuất khẩu thô nông sản ở nước ta vẫn chiểm tỉ trọng cao, do đó rất dễ nhìn ra xuất khẩu nông sản thô không hề có thị trường ổn định, dễ rơi vào khủng hoảng, dễ ứ đọng hàng hóa như sản phẩm thịt lơn trong cuộc giải cứu lợn vừa qua hay mặt hàng thanh long, mặt hàng dưa hấu, hoặc mặt hàng chúng ta luôn tự hào là một trong những nước xuất khẩu nhiều nhất là lúa gạo cũng bị dịch covid-19 vừa qua gây ra bước cản lớn. Nhìn về phía mặt hàng khác tham gia vào chuỗi giá trị nông sản: mặt hàng cà phê, mặt hàng nông sản này đã được tham gia vào chuỗi giá trị nông sản để tao ra thức uống cà phê với nhiều chủng loại khác nhau như cà phê hòa tan, cà phê đen, cà phê sữa.