Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình chuyển đổi kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, nhu cầu về nguồn vốn ngoại tệ để phục vụ nhập khẩu tư liệu sản xuất và phát triển hạ tầng trở nên cấp thiết. Kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia đang phát triển cho thấy việc phụ thuộc vào vay nợ nước ngoài hoặc nguồn vốn đầu tư trực tiếp tiềm ẩn nhiều rủi ro bất ổn định tài chính. Trong bối cảnh nền công nghiệp chế biến và sản xuất trong nước còn nhiều hạn chế, xuất khẩu nông sản đóng vai trò là một trong những kênh thu hút ngoại tệ quan trọng hàng đầu của Việt Nam.

Trong cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu, cà phê là mặt hàng chiến lược mũi nhọn. Ngành cà phê không chỉ tạo nguồn thu ngoại tệ lớn mà còn góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, giảm nghèo và thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị. Đến năm 2004, Việt Nam vươn lên vị trí quốc gia xuất khẩu cà phê lớn thứ hai trên thế giới với sản lượng khoảng 20 triệu bao (1 bao tương đương 60 kg), tăng gấp 10 lần so với mức 2 triệu bao của một thập kỷ trước đó. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành cũng bộc lộ những thách thức lớn về chất lượng hạt, phương thức thu hoạch, công nghệ chế biến và tổ chức thu mua tạo nguồn.

Công ty Xuất nhập khẩu INTIMEX là doanh nghiệp giữ vị trí thứ hai toàn quốc về quy mô xuất khẩu cà phê. Để duy trì và phát triển thị phần xuất khẩu trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, khâu tổ chức thu mua tạo nguồn hàng được xác định là nhân tố then chốt, quyết định trực tiếp đến khối lượng, phẩm cấp chất lượng và hiệu quả tài chính của các hợp đồng ngoại thương. Đề tài "Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác thu mua tạo nguồn cà phê xuất khẩu tại Công ty xuất nhập khẩu INTIMEX" được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn đó.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề tập trung vào:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về nguồn hàng, nghiệp vụ tạo nguồn và thu mua tạo nguồn hàng phục vụ xuất khẩu trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại quốc tế.
  2. Khảo sát bức tranh tổng quan của ngành cà phê Việt Nam và phân tích thực trạng công tác thu mua, xuất khẩu cà phê tại Công ty Xuất nhập khẩu INTIMEX giai đoạn 2000 – 2003.
  3. Đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân trong quy trình thu mua tạo nguồn hàng của doanh nghiệp.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm kiện toàn mạng lưới, đa dạng hóa phương thức thu mua, kiểm soát chất lượng và tối ưu hóa chi phí cho INTIMEX trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động thu mua tạo nguồn cà phê xuất khẩu. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại Công ty Xuất nhập khẩu INTIMEX, bao gồm hội sở chính tại Hà Nội, các chi nhánh (Nghệ An, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đồng Nai, Hải Phòng, Maxcơva) và hệ thống vùng nguyên liệu tại Tây Nguyên và miền Bắc. Phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2003, có đối chiếu với định hướng phát triển của ngành đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận quản trị kinh doanh thương mại quốc tế và nghiệp vụ ngoại thương. Tác giả phân định rõ ràng ba khái niệm cốt lõi:

  • Nguồn hàng cho xuất khẩu: Là toàn bộ khối lượng hàng hóa của một doanh nghiệp, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia có khả năng và bảo đảm các điều kiện, tiêu chuẩn chất lượng để tiêu thụ trên thị trường quốc tế.
  • Tạo nguồn hàng cho xuất khẩu: Bao gồm tổng thể các hoạt động từ đầu tư, tổ chức sản xuất, chế biến, bảo quản đến các nghiệp vụ nghiên cứu thị trường, xúc tiến, đàm phán và ký kết hợp đồng nhằm hình thành lượng hàng hóa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu.
  • Thu mua tạo nguồn hàng cho xuất khẩu: Là hệ thống các nghiệp vụ kinh doanh trao đổi, mua bán hàng hóa từ các nhà sản xuất hoặc trung gian phân phối trong nước để tập trung nguồn hàng phục vụ đơn hàng ngoại thương.

Chuyên đề phân loại nguồn hàng xuất khẩu theo 5 tiêu chí: chế độ phân cấp quản lý (trong và ngoài kế hoạch Nhà nước), đơn vị giao hàng (xí nghiệp công nghiệp, nông lâm nghiệp, cơ sở tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã và hộ gia đình), phạm vi địa bàn kinh doanh, khối lượng hàng hóa (nguồn chính và nguồn phụ), và tính chất mối quan hệ kinh tế (nguồn truyền thống lâu dài, nguồn mới, nguồn vãng lai). Đồng thời, tác giả viện dẫn các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế của Ủy ban Chất lượng cà phê thế giới (Nghị quyết 407), quy định độ ẩm cà phê xuất khẩu không vượt quá 12% và tổng số lỗi cho phép trong một mẫu 300g cà phê vối (Robusta) không vượt quá 150 lỗi.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp lý thuyết để xây dựng khung phân tích nghiệp vụ.
  • Phương pháp thống kê mô tả và so sánh số liệu kinh tế qua chuỗi thời gian (2000 – 2003) nhằm đánh giá biến động vốn, doanh thu, lợi nhuận, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu.
  • Phương pháp phân tích cơ cấu nhằm đánh giá tỷ trọng chủng loại cà phê, thị trường tiêu thụ và địa bàn thu mua.
  • Nguồn dữ liệu sử dụng bao gồm: các báo cáo tài chính và báo cáo xuất nhập khẩu nội bộ của Công ty Xuất nhập khẩu INTIMEX (2000 – 2003); số liệu thống kê từ Tổng công ty Cà phê Việt Nam (VINACAFE), Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA), Hiệp hội các nước sản xuất cà phê (ACCP), số liệu nghiên cứu của FAO và UNDP (1999).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác thu mua tạo nguồn hàng cho xuất khẩu của doanh nghiệp

Chương 1 mở đầu bằng tổng quan lịch sử hình thành và phát triển của ngành cà phê Việt Nam. Cây cà phê được du nhập vào Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX qua các linh mục phương Tây tại Quảng Bình, Quảng Trị; cuối thế kỷ XIX được nhân rộng tại các đồn điền phía Bắc (Hà Nam, Sơn Tây, Hòa Bình, Phú Thọ, Phủ Quỳ - Nghệ An) và cuối thế kỷ XX mở rộng mạnh mẽ sang miền Trung và Đông Nam Bộ. Trước năm 1975, diện tích canh tác chỉ đạt khoảng 1,5 ha với năng suấtêm tốn 3 – 5 tạ/ha. Đến đầu thập niên 1980 đạt 20.000 ha (năng suất 21,8 tạ/ha) và đến năm 2002 cả nước đã vượt mức 500.000 ha.

Tác giả chỉ rõ thực trạng chất lượng cà phê Việt Nam còn nhiều hạn chế do thói quen thu hái tuốt cành một lần lẫn cả quả xanh và quả chín, kỹ thuật phơi sấy thô sơ ngoài trời khiến tỷ lệ hạt đen, vỡ cao và độ ẩm thường vượt ngưỡng 13%. Về khâu chế biến ban đầu (khô đối với Robusta và ướt đối với Arabica), khảo sát của FAO và UNDP tại Đắk Lắk (địa bàn chiếm hơn 60% sản lượng cả nước) cho thấy phần lớn cơ sở có quy mô công suất dưới 1.000 tấn/năm chiếm 100% tỷ trọng mẫu điều tra, chưa đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu trực tiếp mà phải qua tái chế.

Tiêu chí phân loại cơ sở chế biến tại Đắk Lắk (2000) Quy mô công suất (tấn/năm) Đặc điểm sản phẩm
Cơ sở chế biến quy mô nhỏ Dưới 1.000 Phục vụ sơ chế ban đầu, cần chế biến lại trước khi xuất khẩu
Cơ sở chế biến tư nhân 1.000 – 2.000 Ít tham gia xuất khẩu trực tiếp, chủ yếu cung ứng nội địa
Xí nghiệp nông trường quốc doanh Trên 3.000 (khoảng 14 nhà máy) Thuộc Tổng công ty Cà phê (7 nhà máy) và tỉnh quản lý
Nhà máy chế biến xuất khẩu lớn Trên 5.000 Thuộc các doanh nghiệp xuất nhập khẩu quốc doanh

Chương này cũng phân tích các hình thức thu mua tạo nguồn (theo đơn đặt hàng, theo hợp đồng kinh tế, thu mua trôi nổi không theo hợp đồng, liên kết đầu tư vùng nguyên liệu, mạng lưới đại lý và hàng đổi hàng); đồng thời phân tích các nhóm nhân tố khách quan (điều kiện khí hậu thổ nhưỡng: Robusta thích hợp 24 – 26°C, Arabica thích hợp 18 – 25°C; biến động cung cầu thế giới; chính sách pháp lý) và nhân tố chủ quan (công nghệ chế biến, cơ sở hạ tầng kho bãi vận tải, nguồn nhân lực, tiềm lực vốn và nội lực ngành) tác động đến công tác tạo nguồn.

Chương 2: Thực trạng công tác thu mua tạo nguồn cà phê xuất khẩu tại Công ty Xuất nhập khẩu INTIMEX

Công ty Xuất nhập khẩu INTIMEX tiền thân là Công ty Xuất nhập khẩu Nội thương và Hợp tác xã trực thuộc Bộ Nội thương, thành lập theo Quyết định số 217/TTg ngày 26/03/1979 của Thủ tướng Chính phủ. Sau nhiều lần tái cơ cấu (Quyết định 255/HĐBT năm 1985, Quyết định 388/HĐBT, Quyết định 09/TCCB ngày 08/06/1995 của Bộ Thương mại), công ty chính thức đổi tên thành Công ty Xuất nhập khẩu INTIMEX (Foreign Trade Enterprise), hoạt động theo Giấy phép kinh doanh số 1161085 cấp ngày 13/11/1995.

Cơ cấu tổ chức của INTIMEX được thiết lập theo mô hình thủ trưởng, gồm Ban Giám đốc, 13 phòng ban chuyên môn (Văn phòng công ty, Phòng Hành chính quản trị, Tổ chức cán bộ, Kế hoạch tổng hợp, Tài chính kế toán, Kiểm toán nội bộ, Thu hồi công nợ, các phòng Nghiệp vụ kinh doanh XNK I, II, IV, VI, VIII) và 8 đơn vị trực thuộc (Trung tâm Thương mại Hà Nội, các xí nghiệp thương mại - dịch vụ, may mặc, lắp ráp xe máy cùng các chi nhánh tại TP.HCM, Đồng Nai, Đà Nẵng, Hải Phòng và Maxcơva).

Chỉ tiêu tài chính - kinh doanh Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Vốn kinh doanh (tỷ đồng) 10,376 17,051 20,273 30,557
Doanh thu (tỷ đồng) 40,474 60,321 80,684 107,763
Chi phí hoạt động (tỷ đồng) 15,007 20,361 23,123 40,434
Nộp ngân sách Nhà nước (tỷ đồng) 5,712 6,343 7,676 13,008
Lợi nhuận (tỷ đồng) 19,755 33,617 49,885 54,321
Thu nhập bình quân (triệu đồng/người/tháng) 1,10 1,20 1,40 1,57

Mặc dù mới chính thức tham gia kinh doanh xuất khẩu cà phê từ năm 1997 và đẩy mạnh từ năm 1999, INTIMEX đã nhanh chóng phân bổ vốn đầu tư cho mặt hàng này chiếm 35% tổng vốn kinh doanh. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của công ty tập trung chủ yếu vào cà phê Robusta trồng tại Tây Nguyên (chiếm 50 – 60% tỷ trọng nông sản); lượng Arabica xuất khẩu còn khiêm tốn do nguồn cung trong nước hạn chế. Về thị trường tiêu thụ, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu trọng điểm lớn nhất (tăng từ 4,85 triệu USD năm 2000 lên gần 19 triệu USD năm 2003 và là đối tác nhập khẩu Arabica duy nhất của công ty), tiếp đến là thị trường Châu Âu và Châu Á (Singapore chiếm 89% thị phần xuất khẩu Châu Á năm 2000, bên cạnh Malaysia, Thái Lan, Hàn Quốc).

Về địa bàn thu mua tạo nguồn, có sự chênh lệch lớn giữa các vùng:

  • Miền Nam (trọng tâm Tây Nguyên) chiếm từ 90% đến 100% khối lượng thu mua cà phê Robusta của công ty.
  • Miền Bắc tập trung tại Sơn La, Điện Biên (chiếm 70 – 80% sản lượng cà phê chè miền Bắc thu mua) và tăng đột biến từ năm 2003 theo chủ trương phát triển Arabica.
  • Miền Trung tập trung thu mua tại Nghệ An, Quảng Trị và một phần nhập khẩu tiểu ngạch từ Lào.

Tác giả đánh giá hạn chế lớn nhất trong khâu tạo nguồn của INTIMEX là tính bị động trong việc lựa chọn nhà cung ứng; phương thức thu mua chủ yếu là mua gom trực tiếp tại kho thay vì thu mua tại vườn khiến giá mua bị đẩy lên cao, phát sinh nhiều khâu trung gian và chất lượng hạt bị giảm sút do lưu kho kéo dài. Mạng lưới thu mua chưa bao phủ đều và trình độ nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ thu mua chưa theo kịp biến động giá cả thị trường thế giới.

Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh công tác thu mua tạo nguồn cà phê xuất khẩu tại Công ty Xuất nhập khẩu INTIMEX

Căn cứ định hướng của ngành cà phê Việt Nam và kế hoạch sản xuất - xuất khẩu của INTIMEX (hướng tới chỉ tiêu sản lượng 1.000 tấn giá trị tổng sản lượng, năng suất xử lý 40.000 tấn/năm, kim ngạch nâng cao), tác giả đề xuất 6 nhóm biện pháp đồng bộ:

  1. Nhóm biện pháp tạo nguồn hàng ổn định:

    • Đầu tư vốn trực tiếp hoặc hỗ trợ tín dụng ban đầu cho các cơ sở sản xuất, nông trường và trạm gia công để ràng buộc trách nhiệm cung ứng.
    • Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và triển khai các hợp đồng gia công, hợp tác liên kết theo phương thức đổi thiết bị, máy móc lấy sản phẩm cà phê xuất khẩu.
    • Đầu tư xây dựng hệ thống kho tập kết tại các vùng nguyên liệu trọng điểm để chuyển đổi từ hình thức mua tại kho sang thu mua tại vườn, kết hợp đưa nguyên liệu về 2 nhà máy chế biến riêng của công ty nhằm chuẩn hóa quy trình sơ chế.
    • Hoàn thiện chính sách khoán, đãi ngộ vật chất và cơ chế thưởng - phạt rõ ràng đối với cán bộ phụ trách tạo nguồn.
  2. Đa dạng hóa các hình thức thu mua:

    • Áp dụng linh hoạt hình thức mua gom đứt đoạn bằng tiền mặt đối với hàng hóa trôi nổi khi thị trường khan hiếm.
    • Ký kết hợp đồng kinh tế kỳ hạn dài đối với các đơn hàng lớn đòi hỏi chất lượng đồng bộ.
    • Thực hiện nghiệp vụ ký quỹ đặt cọc trước cho nông dân tại thời điểm đầu vụ để giữ chân nguồn hàng, ngăn ngừa rủi ro tranh mua từ đối thủ cạnh tranh.
    • Áp dụng phương thức hàng đổi hàng (cung ứng phân bón, vật tư nông nghiệp để đối lưu lấy cà phê hạt).
  3. Kiện toàn và tổ chức hệ thống mạng lưới thu mua:

    • Mở thêm chi nhánh hoặc văn phòng đại diện chuyên trách tại các tỉnh miền Bắc nhằm đón đầu diện tích cà phê chè đang mở rộng.
    • Mở rộng mạng lưới đại lý và tư thương vệ tinh tại các vùng sâu, vùng xa có sản lượng phân tán để giảm chi phí trung gian.
    • Thiết lập quy chế báo cáo định kỳ bắt buộc từ các chi nhánh về hội sở chính nhằm theo dõi biến động chân hàng và giá cả địa phương.
  4. Biện pháp bảo đảm chất lượng cà phê thu mua:

    • Bố trí cán bộ kỹ thuật kiểm định mẫu tại hiện trường trước khi phê duyệt nhập kho, kiên quyết loại bỏ lô hàng không đạt độ ẩm tiêu chuẩn hoặc tỷ lệ tạp chất cao.
    • Hỗ trợ công nghệ và ứng dụng quy trình sấy, bảo quản hiện đại tại kho nhằm khắc phục hiện tượng biến chất, ẩm mốc do thời tiết.
    • Xây dựng văn bản pháp quy nội bộ quy định rõ trách nhiệm cá nhân của cán bộ thu mua gắn với chất lượng của từng lô hàng xuất khẩu.
  5. Giải pháp cắt giảm chi phí thu mua tạo nguồn:

    • Tối ưu hóa cung đường vận chuyển và logistics từ vùng nguyên liệu về kho ngoại quan hoặc cảng xuất khẩu.
    • Tận dụng cơ chế khoán kinh doanh để huy động nguồn vốn nhàn rỗi nội bộ từ cán bộ công nhân viên, giảm chi phí lãi vay ngân hàng thương mại.
    • Ứng dụng kỹ thuật bảo quản để hạ thấp tỷ lệ hao hụt hàng hóa trong quá trình lưu kho bãi.
  6. Nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ thu mua:

    • Cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ kinh doanh ngoại thương, thanh toán quốc tế và phân tích thị trường nông sản.
    • Tổ chức các hội thi tay nghề, phân loại phẩm cấp cà phê định kỳ trong nội bộ doanh nghiệp.
    • Tăng cường đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng đàm phán thương mại và nghiên cứu tập quán tiêu dùng của các thị trường trọng điểm như Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động thu mua cà phê tại một trong những doanh nghiệp thương mại nhà nước đầu ngành thời kỳ đầu hội nhập.

Các kết quả định lượng cụ thể được trích xuất từ tài liệu bao gồm:

  • Phản ánh sự tăng trưởng nguồn vốn kinh doanh của INTIMEX từ 10,376 tỷ đồng (năm 2000) lên 30,557 tỷ đồng (năm 2003); doanh thu tăng từ 40,474 tỷ đồng lên 107,763 tỷ đồng; lợi nhuận tăng từ 19,755 tỷ đồng lên 54,321 tỷ đồng.
  • Ghi nhận quy mô kim ngạch xuất khẩu cà phê sang thị trường Hoa Kỳ tăng trưởng từ 4,85 triệu USD (năm 2000) lên xấp xỉ 19 triệu USD (năm 2003).
  • Chỉ ra cơ cấu vốn chuyên biệt dành riêng cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu cà phê của INTIMEX đạt tỷ trọng 35% tổng nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp.

Về mặt đóng góp ứng dụng, tác giả đã xây dựng hệ thống 6 nhóm giải pháp thực tiễn gắn liền với cơ chế khoán quản và mạng lưới chi nhánh phân tán của INTIMEX, đưa ra mô hình kết hợp giữa thu mua trực tiếp tại vườn với hệ thống chế biến tập trung nhằm giải quyết bài toán chất lượng hạt cà phê xuất khẩu Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Chuyên đề phản ánh chân thực phạm vi nghiên cứu thực tế tại doanh nghiệp, song còn tồn tại một số điểm giới hạn:

  • Các số liệu phân tích chuyên sâu về chi phí thu mua chi tiết và tỷ lệ hao hụt ở từng trạm thu mua địa phương chưa được lượng hóa đầy đủ do hạn chế trong việc tiếp cận dữ liệu kế toán chi tiết tại các chi nhánh độc lập.
  • Thời gian nghiên cứu giới hạn trong giai đoạn 2000 – 2003, giai đoạn thị trường cà phê toàn cầu có nhiều biến động bất thường về giá đáy nên một số giải pháp mang tính ứng phó tình thế ngắn hạn.

Hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo bao gồm: nghiên cứu hoàn thiện chuỗi cung ứng khép kín từ nông hộ đến sàn giao dịch hàng hóa quốc tế; đánh giá hiệu quả kinh tế của việc đầu tư công nghệ chế biến sâu (cà phê hòa tan, cà phê rang xay) nhằm gia tăng giá trị gia tăng thay vì thuần túy xuất khẩu cà phê nhân thô.

Giá trị tham khảo

Bản chuyên đề tốt nghiệp là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên các chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Thương mại quốc tế, Quản trị kinh doanh nông nghiệp khi nghiên cứu về nghiệp vụ tạo nguồn hàng xuất khẩu. Các nội dung đáng chú ý gồm:

  • Quy trình phân loại, khảo sát và tổ chức mạng lưới đại lý thu mua nông sản thực tế.
  • Khung phân tích các nhân tố tự nhiên, kỹ thuật và thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cà phê nhân xuất khẩu.
  • Phương thức quản trị chi phí và cơ chế quản lý nội bộ đối với mạng lưới chi nhánh trực thuộc trong các doanh nghiệp thương mại nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

1. Công ty Xuất nhập khẩu INTIMEX được thành lập theo văn bản pháp lý nào và có vốn ban đầu là bao nhiêu?
Công ty được thành lập theo Quyết định số 217/TTg ngày 26/03/1979 của Thủ tướng Chính phủ với tên gọi ban đầu là Công ty Xuất nhập khẩu Nội thương và Hợp tác xã trực thuộc Bộ Nội thương. Số vốn ban đầu do Nhà nước cấp là 200 triệu đồng.

2. Tiêu chuẩn chất lượng cà phê xuất khẩu theo Nghị quyết 407 của Ủy ban Chất lượng cà phê thế giới gồm những chỉ tiêu nào?
Tiêu chuẩn quy định độ ẩm của cà phê không được vượt quá 12% và tổng số lỗi trong một mẫu thử 300g cà phê vối (Robusta) không được vượt quá 150 lỗi.

3. Tình hình kinh doanh xuất khẩu cà phê của INTIMEX sang thị trường Hoa Kỳ giai đoạn 2000 – 2003 diễn biến như thế nào?
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất và là thị trường tiêu thụ cà phê chè (Arabica) duy nhất của INTIMEX. Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này tăng từ gần 5 triệu USD (năm 2000) lên gần 13 triệu USD (năm 2002) và đạt xấp xỉ 19 triệu USD (năm 2003).

4. Địa bàn thu mua cà phê của INTIMEX tại khu vực miền Bắc tập trung chủ yếu ở những tỉnh nào?
Tại miền Bắc, công ty thu mua chủ yếu tại hai tỉnh Sơn La và Điện Biên, chiếm tỷ trọng từ 70% đến 80% tổng sản lượng cà phê chè thu mua tại khu vực này.

5. Những nguyên nhân chính dẫn đến chất lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam bị đánh giá thấp là gì?
Chất lượng thấp do nông dân có thói quen thu hái một lần tuốt cả quả chín lẫn quả xanh, phơi trực tiếp trên nền đất ngoài trời làm tăng tỷ lệ hạt đen vỡ và hàm lượng nước vượt mức chuẩn 13%, cùng với việc phần lớn cơ sở sơ chế có quy mô nhỏ dưới 1.000 tấn/năm sử dụng công nghệ truyền thống.

Kết luận

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp của tác giả Trần Mai Phương đã phân tích một cách hệ thống thực trạng tổ chức thu mua tạo nguồn cà phê xuất khẩu tại Công ty Xuất nhập khẩu INTIMEX giai đoạn 2000 – 2003. Công trình làm rõ vai trò quyết định của khâu tạo nguồn đối với hiệu quả kinh doanh ngoại thương, đồng thời chỉ ra những nút thắt về công nghệ sơ chế, mạng lưới mua hàng và chất lượng sản phẩm. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ từ khâu đầu tư vốn, liên kết vùng nguyên liệu, quản lý chất lượng đến đào tạo nhân sự, cung cấp cơ sở thực tiễn giá trị cho hoạt động quản trị thu mua nông sản xuất khẩu của doanh nghiệp.