CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Các khoản CVTD là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt… trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để hưởng thụ.
Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch cũng có thể được tài trợ bởi CVTD. Nhìn chung, CVTD được coi là khoản tiền vay cấp cho các cá nhân, hộ gia đình để chi dùng cho các mục đích không kinh doanh. CVTD cho phép các cá nhân, hộ gia đình được sử dụng trước khả năng mua hàng hóa của mình trong tương lai, tức là tạo điều kiện thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trước khi họ có khả năng chi trả (Lê Văn Tư, 2005). Với việc ngày càng xuất hiện nhiều các công ty tài chính lớn, các tổ chức tín dụng cạnh tranh với các NHTM trong lĩnh vực cho vay nên tính cạnh tranh trong lĩnh vực này ngày càng quyết liệt.
Đó là nguyên nhân làm thị phần cho vay của các ngân hàng giảm sút, buộc ngân hàng phải mở rộng thị phần sang mảng cho vay tiêu dùng. Cho vay tiêu dùng là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu của cá nhân, hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính giúp người tiêu dùng trang trải cho nhu cầu cuộc sống về các vấn đề như nhà ở, phương tiện đi lại, sinh hoạt, học tập, du lịch, chăm sóc sức khoẻ …trước khi họ đủ khả năng tài chính để hưởng thụ. Như vậy, có thể thấy cho vay tiêu dùng chính là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả gốc và lãi giữa NHTM và người tiêu dùng.
Các khoản cho vay tiêu dùng sẽ kích thích nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân và giúp người dân được hưởng một mức sống cao hơn. 1 Tùy vào cách xác định của từng ngân hàng, đối tượng cho vay tiêu dùng có rất nhiều dạng. Thông thường, người ta chia đối tượng CVTD theo mức độ tài chính của khách hàng, bao gồm các nhóm như sau: + Các đối tượng có thu nhập thấp: Những người có thu nhập thấp thường nhu cầu vay tiêu dùng không cao do giới hạn bởi thu nhập hạn chế việc vay vốn nhằm tạo sự cân đối giữa thu nhập và chi tiêu. + Các đối tượng có thu nhập trung bình: Đối với những người này, nhu cầu tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh do ý muốn vay mượn để mua hàng tiêu dùng lớn hơn khoản tiền dự phòng của mình.
+ Các đối tượng có thu nhập cao: Khi nhu cầu nảy sinh, những người có thu nhập cao xem CVTD là một biện pháp để làm tăng thêm khả năng thanh toán và coi nó như một khoản nợ linh hoạt để chi tiêu khi mà tiền vốn tích lũy của họ đang được đầu tư trung và dài hạn. Hiểu theo cách khác thì khoản tiền vay tiêu dùng được coi là nguồn ứng trước của lợi nhuận do đầu tư mang lại. Những người nhóm này thường xuyên cần chi tiêu trong mục đích tiêu dùng với số tiền lớn. Vì vậy, các NHTM cần phải chú ý quan tâm đến nhóm khách hàng này.
Đặc điểm của hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mạ i 1. Đặc điểm về khách hàng + Số lượng khách hàng lớn: Khách hàng vay là cá nhân và các hộ gia đình. Mỗi thành viên trong gia đình sẽ có những mục đích tiêu dùng riêng và thường khác nhau, do đó người tiêu dùng rất đông. Vì vậy, các khoản vay tiêu dùng rất đa dạng và phong phú.
+ Bản chất của CVTD là “ứng trước, trả dần, là động lực để người vay kiếm thêm thu nhập và tiết kiệm, đảm bảo nghĩa vụ nợ, họ lo dành dụm cho những mục tiêu lớn, không chi tiêu vô ích”( Lê Văn Tư, 2005). Đặc điểm về khoản vay + Quy mô cho vay tiêu dùng nhỏ: Các nhân tố trình độ học vấn và mức thu 1 nhập đều có ảnh hưởng rõ rệt đến hạn mức vay, những khách hàng có việc làm, mức thu nhập ổn định và có trình độ học vấn là những tiêu chí quan trọng để NHTM quyết định cho vay. Do mục đích vay là tiêu dùng, nên số tiền sử dụng không lớn. Bên cạnh đó, khoản vay này thường không sinh lời.
Vì vậy, để đảm bảo người vay có thể hoàn trả được, Ngân hàng chỉ cho vay với số tiền hạn mức, nhỏ hơn so với khoản vay của doanh nghiệp. Nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ thu nhập, không nhất thiết phải là từ kết quả của việc sử dụng những khoản vay đó. + Lãi suất CVTD: Do quy mô các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản vay để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay cao, do vậy, lãi suất CVTD thường cao hơn lãi suất cho vay thương mại và rủi ro cao nhất trong danh mục cho vay của Ngân hàng do CVTD có tính nhạy cảm theo chu kì và phụ thuộc vào nhu cầu kinh tế. Trong thời kì kinh tế tăng trưởng tốt và ổn định, người dân cảm thấy lạc quan về tương lai, họ sẽ thoải mái mua sắm, vì vậy, nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng lên.
Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, tâm lý chung của cá nhân là lo lắng về cuộc sống tương lai, do đó, việc tiêu dùng sẽ phải hạn chế tối đa, đồng thời hoạt động vay mượn giảm đi rất nhiều. Ngân hàng có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định mức lãi suất phù hợp với khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng mà phần lớn lãi suất được xác định dựa trên lãi suất cơ bản, phần lợi nhuận cận biên và phần bù đắp rủi ro, công thức tính tổng quát như sau: Phần bù Chi Chi phí khấu hao Lợi phí Rủi ro Lãi suất huy với các nhuận = + huy + tổn thất + + CVTD động khoản cho cận động chủ kiến vốn vay dài biên khác hạn Lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất các loại cho vay trong các lĩnh vực khác. Ngoài ra chi phí của nó cũng thường cao hơn so với các khoản cho vay khác do phải bù đắp rủi ro có thể xảy ra đối với khoản vay. 1 Cho vay tiêu dùng từ khi ra đời và phát triển đã đem lại cho các ngân hàng lợi nhuận lớn, lãi suất cho vay tiêu dùng thường được cố định chứ không thả nổi như những hình thức tín dụng khác.
Còn hiện nay, trong môi trường cạnh tranh đã buộc các Ngân hàng thay đổi lãi suất của cho vay tiêu dùng, đã có sự thả nổi nhưng đấy là sự thả nổi chưa hoàn toàn. Khi đưa ra mức lãi suất cho vay cố định đó, các ngân hàng thường phải dự tính đến yếu tố lãi suất huy động đầu vào sẽ thay đổi như thế nào để làm căn cứ đưa ra lãi suất cho vay tiêu dùng. Vì vậy lãi suất cho vay tiêu dùng không linh hoạt như các khoản cho vay kinh doanh khác. Đây cũng là yếu tố tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng khi lãi suất huy động tăng.
Ngoài ra ta có thể thấy nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co giãn với lãi suất. Đối với đối tượng khách hàng này, điều khiến họ quan tâm hơn hết là số tiền mà họ phải trả hàng tháng hơn là lãi suất mà họ phải chịu, mặc dù rõ ràng chính lãi suất trong hợp đồng tín dụng ảnh hưởng đến quy mô số tiền phải trả này. Phân loại cho vay tiêu dùng 1. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn của khách hàng + Cho vay tiêu dùng cư trú: Đây là khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng, cải tạo nhà ở… + Cho vay tiêu dùng phi cư trú: Đây là khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua săm xe cộ, đồ dùng sinh hoạt, học hành, chi phí y tế, giải trí, du lịch,… 1.
Căn cứ vào cách thức hoàn trả + Cho vay tiêu dùng trả góp: Đây là hình thức cho vay mà người đi vay trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng nhiều lần theo kỳ hạn nhất định trong thời hạn vay (thường áp dụng cho món vay lớn, thời gian vay dài). + Cho vay tiêu dùng phi trả góp: Đây là phương thức vay mà khách hàng thanh toán nợ cho ngân hàng một lần khi đến hạn (thường áp dụng cho món vay nhỏ, thời gian vay ngắn). + Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Đây là hình thức cho vay mà ngân hàng cho khách hàng được phép sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu 1 chi dựa trên tài khoản vãng lai. Với phương thức này, thời hạn tín dụng phải được thỏa thuận trước căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng nhất định.
+ Cho vay theo thẻ tín dụng: NH cung cấp thẻ tín dụng cho KH, KH được vay qua việc mua hàng bằng thẻ tín dụng với hạn mức tối đa ngân hàng cho phép. Số tiền này được trả một lần hoặc trả dần với lãi suất tương đối cao. Căn cứ vào hình thức đảm bảo + Cho vay có tài sản đảm bảo: Là cho vay bằng động sản, bất động sản… hình thành từ vốn vay hoặc tài sản thuộc sở hữu của khách hàng trước khi vay vốn của ngân hàng. Đảm bảo tài sản thế chấp: là việc bên vay vốn thế chấp TS của mình cho bên cho vay để bảo đảm khả năng hoàn trả vốn vay.
Thế chấp tài sản là việc bên đi vay sử dụng bất động sản thuộc sở hữu của mình hoặc giá trị quyền sử dụng đất hợp pháp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên cho vay. Cầm cố tài sản: là việc bên đi vay giao tài sản là các động sản thuộc sở hữu của mình cho bên cho vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Động sản cầm cố có thể là loại không cần đăng ký quyền sở hữu, có loại cần đăng ký quyền sở hữu (xe cộ, phương tiện vận chuyển…) Tài sản hình thành từ vốn vay: là tài sản của khách hàng vay mà giá trị tài sản được tạo ra bởi một phần hoặc toàn bộ khoản cho vay của ngân hàng.