CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số vấn đề chung về cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm cho vay của Ngân hàng thương mại Cho vay là một trong các hình thức cấp tín dụng cho khách hàng. Khái niệm "cấp tín dụng" được định nghĩa tại khoản 18, điều 8, Luật Doanh nghiệp Lào sửa đổi bổ sung năm 2019 như sau: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Trong các nghiệp vụ cấp tín dụng thì nghiệp vụ cho vay là hoạt động truyền thống và quan trọng nhất của NHTM, nguyên nhân vì cho vay là hoạt động có tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất, chiếm trọng lệ cao nhất trong hoạt động cấp tín dụng cũng như đầu tư và tạo thu nhập lớn nhất cho ngân hàng.
Hoạt động cho vay có thể được hiểu là một giao dịch về tài sản “tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó: Bên cho vay chuyển giao và cam kết giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Từ các khái niệm này, có thể hiểu cho vay khách hàng Doanh nghiệp nhỏ và vừa là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM giao cho khách hàng là Doanh nghiệp nhỏ và vừa một khoản tiền để sử dụng trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích đáp ứng nhu cầu vay vốn để phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh. Đặc điểm cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Luật doanh nghiệp của CHDCND Lào thì: “Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác xã (sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm không quá 20 triệu LAK ) (sau đây gọi chung là doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ).” Tại Lào, theo Nghị định 25/2017/NĐ-CP của Chính phủ thì Doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa là doanh nghiệp có số lao động bình quân hàng năm không quá 99 người 4 hoặc tổng giá trị tài sản không quá một trăm hai trăm triệu Kíp hoặc thu nhập kinh doanh hàng năm không quá một tỷ hai trăm nghìn Kíp.1: Tiêu chí xếp loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào DN siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng nguồn thu nguồn thu nguồ thu Khu vực vốn nhập vốn nhập Số n vốn nhập Số lao Số lao kinh kinh lao kinh động động doanh doanh động doanh hàng hàng hàng năm năm năm 100 400 1 tỷ 2 tỷ 4 tỷ 4 tỷ kíp I. Sản 1-5 triệu triệu 6-50 kíp trở kíp trở 51-99 kíp trở xuất người kíp trở kíp trở người xuống xuống người trở xuống hàng hóa xuống xuống xuống 150 400 1 tỷ 3 tỷ 4 tỷ 6 tỷ kíp II.
1-5 triệu triệu 6-50 kíp trở kíp trở 51-99 kíp trở Thương người kíp trở kíp trở người xuống xuống người trở xuống mại xuống xuống xuống 200 400 1,5 tỷ 1,5 tỷ 6 tỷ 4 tỷ kíp III. Dịch 1-5 triệu triệu 6-50 kíp trở kíp trở 51-99 kíp trở vụ người kíp trở kíp trở người xuống xuống người trở xuống xuống xuống xuống Nguồn: Nghị định 25/2017/NĐ-CP, nước CHDCND Lào, 2017 Do doanh nghiệp nhỏ và vừa là một cấu phần trong doanh nghiệp nói chung do vậy các đặc điểm cho vay DNNVV cũng giống như cho vay doanh nghiệp, có đầy đủ các phương thức cho vay như các đối tượng DN khác. Tuy nhiên tùy thuộc vào đặc điểm của DNVVN mà hoạt động cho vay đối tượng này cũng có một số điểm điểm sau: - Đối tượng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa rất đa dạng với nhiều lĩnh vực khác nhau, hoạt động hầu như mọi ngành, lĩnh vực khác nhau. Nguyên nhân là do việc thành lập hợp pháp một DNNVV trong thời điểm hiện nay khá dễ dàng do không có nhiều rào 5 cản về quy định của pháp luật ngoài ra vốn hoạt động, số lượng nhân công lao động và chi phí đầu tư cho cơ sở hạ tầng thấp.
DNNVV thích nghi cao với thị trường, do đó dễ dàng chuyển đổi, lựa chọn kinh doanh các mặt hàng có tỷ suất sinh lời cao nhưng đi kèm theo đó là mức độ rủi ro lớn bên cạnh đó DN có quy mô nhỏ chuyển hướng kinh doanh sang lĩnh vực mới dễ dàng hơn các doanh nghiệp có quy mô lớn do doanh nghiệp có quy mô lớn tiếp cận thị trường một cách thận trọng và có đánh giá chi tiết các phương án mới có thể thực hiện được. - Số lượng khách hàng DNVVN vay vốn thường ít hơn so với khách hàng cá nhân, hộ gia đình nhưng dư nợ cho vay doanh nghiệp hầu như luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay. Do các nhu cầu của các khách hàng cá nhân thường là phục vụ mục đích tiêu dùng trong khi doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh, nên dư nợ của khách hàng doanh nghiệp thường chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng dư nợ tại NHTM. Nhưng so với khách hàng kinh doanh hộ gia đình thông tin tài chính về hoạt động kinh doanh của khách hàng doanh nghiệp có độ tin cậy cao do các doanh nghiệp muốn hoạt động thì chịu sự điều chỉnh của khá nhiều quy định như cần phải có giấy phép kinh doanh, địa chỉ, trụ sở cụ thể, thường xuyên phải thực hiện báo cáo tài chính và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh nộp các cơ quan có thẩm quyền như thuế, cơ quan kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập.
Phần lớn DNNVV theo hình thức hộ gia đình thương được thành lập do thành viên trong hộ hay bạn bè, đồng nghiệp trên thực hiện góp vốn nên phương thức điều hành và quản lý còn nhiều hạn chế. Đa số các chủ DNNVV chưa được đào tạo cơ bản về những kiến thức quản trị kinh doanh, kinh tế thị trường mà họ thường quản lý bằng kinh nghiệm thực tiễn tự tích lũy và bằng sự hướng dẫn truyền đạt của các thành viên trong gia đình đã trải qua nhiều năm kinh doanh. Do vậy chuyên môn trong quản lý thường không cao, đôi khi chưa có sự tách biệt rõ ràng giữa các bộ phận, một người có thể thực hiện một hay nhiều nhiệm vụ khác nhau trong công ty. Điều này có thể hạn chế sự phát huy tốt tính tự chủ, sáng tạo của nhân viên hoặc tạo sự phân công không phù hợp gây áp lực cho nhân viên công ty VVN.
Nhiều DNNVV chưa thực sự xây dựng xác định rõ chiến lược phát triển bền vững, lâu dài hoặc phương án còn chưa chi tiết trong từng giai đoạn, từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. - Hoạt động cho vay KHDNVVN linh hoạt nhờ quy mô nhỏ và tính chủ động và tự quyết cao, có thể lấy ví dụ như giá cả hàng hóa và dịch vụ cung cấp ra thị trường có tính linh động cao, phù hợp với nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng và đây là một trong những điểm ưu thế nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường, khi thị trường có sự biến động hay khi gặp khó khăn, doanh nghiệp dễ dàng thực hiện điều chỉnh quy mô, thay đổi máy móc dây chuyền thiết bị, chuyển hướng kinh doanh các mặt hàng cần 6 thiết nhanh chóng hơn so với các DN lớn, do sự linh động khi có sự thay đổi của thị trường mà DNNVV vượt qua khó khăn và đạt hiệu quả kinh tế cao trong thời gian ngắn. DNNVV có thể đi vào sản xuất kinh doanh ngay sau khi thành lập xong do cơ sở hạ tầng đơn giản không phức tạp và xây dựng trong thời gian ngắn, cơ cấu bộ máy quản lý giám sát hoạt động tương đối đơn giản nên không mất nhiều thời gian xây dựng cũng như chi phí cho bộ máy, tạo hiệu suất hoạt động cao hơn so với các doanh nghiệp lớn. Sự phát triển của khoa học và công nghệ thông tin làm cho DNNVV ngày càng được trang bị các công cụ phương tiện tương đối hiện đại, có nhiều ứng dụng mạnh mẽ tạo hiệu suất cao trong mọi hoạt động kinh doanh mặc dù có khá ít vốn, nhờ đó cung cấp sản phẩm và dịch vụ chất lượng ngày càng cao.
Xu hướng hiện nay tại hầu hết các ngân hàng là chuyển hướng cơ cấu cho vay từ các tập đoàn, tổng công ty, công ty có quy mô lớn sang cho vay nhỏ lẻ, đẩy mạnh khai thác đối tượng là khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa để đa dạng hóa danh mục cho vay nâng cao hiệu quả cho vay và giảm rủi ro. Do số lượng Doanh nghiệp nhỏ và vừa có số lượng lớn và nhiều loại hình góp phần phân tán rủi ro khi ngân hàng cho vay. Ngoài ra, cho vay các doanh nghiệp lớn hiện tại đã có sự bão hòa khi số lượng hạn chế, mặt khác bị rất nhiều ngân hàng tập trung khai thác hơn do cạnh tranh và chi phí tiếp cận cao và lợi nhuận biên thu lại từ một đồng vốn bỏ ra thường không cao, ngoài ra mức độ rủi ro cao khi dư nợ tập trung vào khách hàng lớn. Để thuận tiện cho sản xuất, tiếp cận được nguồn nguyên vật liệu và phân phối hàng hoá ra thị trường một cách kịp thời, nhanh nhóng, giảm thiểu chi phí vận chuyển các DNNVV có chuyển đặt trụ sở tại nhiều nhiều nơi phù hợp với tình hình sản xuất.
Lợi thế này giúp DNNVV giảm chi phí đầu tư cơ sở vật chất, tránh phân tán nguồn lực, linh hoạt cao trong bộ máy sản xuất tạo lợi nhuận cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh. - Hoạt động cho vay DNVVN tuy gặp nhiều thuận lợi nhưng cũng có một số vấn đề khó khăn xuất phát từ việc hoạt động cần ít vốn mặc dù tạo sự linh hoạt, chủ động nhưng đó cũng là điểm hạn chế về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn. Do tiềm lực tài chính thấp nên DNNVV khó thực hiện các ý tưởng kinh doanh lớn do tốn rất nhiều nguồn lực và thời gian.