CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN 1. Cơ sở lý luận về phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân 1. Các khái niệm cơ bản 1. Bảo hiểm y tế Khái niệm BHYT, theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân".
Theo Luật BHYT do Quốc hội ban hành ngày 14/11/2008, “BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật”. Về bản chất: “BHYT có thể xem như đây là một hình thức tiết kiệm một khoản tiền trong tổng số tiền thu nhập của mỗi cá nhân hay mỗi hộ gia đình để đóng vào một quỹ chung do Nhà nước đứng ra quản lý, với mục đích giúp mọi thành viên tham gia quỹ có ngay một khoản tiền trả trước cho các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khi người tham gia không may gặp rủi ro về sức khỏe cần sử dụng các dịch vụ đó, mà không phải trực tiếp chi trả hết toàn bộ chi phí khám chữa bệnh”. Cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ thanh toán khoản chi phí này theo quy định của Luật BHYT. Bảo hiểm y tế toàn dân Có nhiều cách khác nhau để tiếp cận với thuật ngữ BHYT toàn dân.
Thứ nhất, có thể coi BHYT toàn dân là 1 chương trình của quốc gia với mục đích đảm bảo cho tất cả nhân dân trong quốc gia đó được tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản như: tăng cường sức khỏe, dự phòng, điều trị và phục Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 2 hồi chức năng với chi phí hợp lý. Hay nói theo một phương diện khác, BHYT toàn dân là hình thức tất cả mọi người dân đều có quyền được tham gia và được bảo vệ sức khỏe bởi hệ thống BHYT, và giảm thiểu nỗi lo gánh nặng tài chính mang lại. Theo quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) “vấn đề BHYT toàn dân phải được tiếp cận đầy đủ trên cả ba phương diện về chăm sóc sức khỏe toàn dân, bao gồm: Bao phủ về dân số, tức là tỷ lệ dân số tham gia BHYT; Bao phủ gói quyền lợi về BHYT, tức là phạm vi dịch vụ y tế được đảm bảo; và Bao phủ về chi phí hay mức độ được bảo hiểm để giảm mức chi trả từ tiền túi của người bệnh”. Điều 2 Luật BHYT năm 2008 quy định: “BHYT toàn dân là việc các đối tượng quy định trong Luật này đều tham gia BHYT”.
Hệ thống BHYT toàn dân do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện và được đảm bảo bằng hệ thống pháp luật. Người lao động khi có việc làm, được giao kết bằng hợp đồng lao động với chủ sử dụng lao động đều có nghĩa vụ và trách nhiệm đóng góp một phần tài chính vào quỹ BHYT. Với những nhóm đối tượng khác trong xã hội, tùy thuộc vào điều kiện thu nhập, hoàn cảnh cụ thể sẽ được nhận sự hỗ trợ theo tỷ lệ % quy định để tham gia đóng góp vào quỹ BHYT. BHYT toàn dân được đánh giá như một chất xúc tác với mục đích tái phân phối thu nhập, thu hẹp khoảng cách về thu nhập trong việc chăm sóc sức khỏe người dân, từ đó duy trì ổn định về mặt xã hội.
Phát triển BHYT toàn dân Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới. Phát triển là một thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong,… nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 3 Khái niệm phát triển BHYT toàn dân phải phản ánh được các nội dung cơ bản sau: - Sự tăng lên về quy mô số lượng người dân tham gia BHYT, số lượng cơ sở KCB BHYT, và sự phát triển của nguồn quỹ chi trả BHYT, làm tăng thêm hiệu quả thực thi chính sách BHYT và sự biến đổi tích cực về độ bao phủ chính sách BHYT mang lại.
- Sự tác động của chính sách BHYT làm thay đổi cơ cấu xã hội, cải thiện đời sống dân cư, cải thiện chất lượng sức khỏe của người dân. - Sự phát triển chính là một quy luật tiến hoá, tuy nhiên lại chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, trong đó nhân tố nội lực của chính sách BHYT giữ vị trí quyết định, còn nhân tố bên ngoài có vai trò quan trọng. Từ đó thấy rằng phát triển BHYT toàn dân chính là sự phát triển về độ bao phủ BHYT, sự bảo đảm an toàn nguồn quỹ BHYT của cộng đồng, quyền lợi của người bệnh BYT và quan trọng hơn cả là chất lượng dịch vụ y tế phải đáp ứng được sự hài lòng và tin tưởng của người tham gia. Do vậy cần thiết phải có sự gắn kết chặt chẽ, cộng đồng trách nhiệm, hài hòa lợi ích giữa các chủ thể tham gia BHYT, cung ứng dịch vụ BHYT và tổ chức quản lý quỹ BHYT.
Tóm lại, khái niệm phát triển BHYT toàn dân còn khá mới mẻ, song xét 1 cách chung nhất phát triển BHYT toàn dân được xem là tiến trình mà theo đó các quốc gia nước tăng cường khả năng mở rộng đối tượng tham gia, số lượng cơ sở KCB, tăng nguồn quỹ BHYT đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Vì vậy, phát triển BHYT toàn dân kinh tế là phương thức tốt nhất giúp cho người dân tại các quốc gia nâng cao chất lượng sức khỏe tốt hơn, đặc biệt là các nước có mức thu nhập thấp và trung bình.2 Đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của phát triển BHYT toàn dân 1.1 Đặc điểm của BHYT toàn dân BHYT ra đời trên cơ sở chia sẻ sự rủi ro. Nhìn từ góc độ là một sản phẩm thì BHYT có những đặc điểm sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 4 - Về mặt kinh tế xã hội: BHYT là công cụ quan trọng để quản lý xã hội và kênh phân phối thu nhập hiệu quả. Sự đói nghèo khi không may gặp rủi ro về sức khỏe, về tài chính, tất yếu sẽ dẫn đến sự chậm phát triển của nền kinh tế quốc gia, đó không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân gặp phải mà còn là trách nhiệm chung của Nhà nước, quốc gia ấy.
BHYT toàn dân hoạt động theo phương thức huy động nguồn tiền đóng vào quỹ BHYT căn cứ theo thu nhập của người tham gia, riêng với những những đối tượng như người nghèo và người hưởng chính sách xã hội sẽ được ngân sách Nhà nước hỗ trợ; và khi khám chữa bệnh sẽ được hưởng theo quyền lợi quy định. - Về đối tượng tham gia, để thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân, các Văn kiện, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng chỉ rõ: “Có chính sách khuyến khích người dân, nhất là người có thu nhập dưới mức trung bình tham gia BHYT. Nâng cao hiệu quả sử dụng BHYT đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi, các hộ nghèo… Mở rộng chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với người tham gia BHYT, nhất là BHYT cho các đối tượng chính sách, người thuộc hộ gia đình cận nghèo, nông dân, học sinh, sinh viên, đồng bào ở các vùng đặc biệt khó khăn, vùng núi. Có chính sách khuyến khích người tham gia BHYT tự nguyện thường xuyên dài hạn, hạn chế tình trạng người bị ốm đau mới mua BHYT”.
Đặc biệt quan tâm đến nhóm yếu thế là một nét đặc trưng nổi bật trong quan điểm của Đảng về thực hiện BHYT toàn dân. Nhằm đảm bảo cho những đối tượng này được tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản, nhằm nâng cao hơn nữa tính công bằng trong việc chăm sóc sức khỏe người dân. - Chú trọng xây dựng nền y tế phục vụ cho toàn dân, trong đó, quan tâm đặc biệt tới người được hưởng chính sách xã hội, người nghèo “xây dựng và hoàn thiện chính sách trợ cấp và BHYT cho người hưởng chính sách xã hội và người nghèo trong khám, chữa bệnh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 - Bảo đảm quyền khám, chữa bệnh và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh BHYT cũng được hết sức chú trọng để thu hút ngày càng đông người dân tham gia BHYT, tạo đà thực hiện BHYT toàn dân một cách bền vững, xóa bỏ sự phân biệt giữa khám, chữa bệnh theo chế độ BHYT và theo chế độ thu phí dịch vụ” 1.2 Vai trò của BHYT toàn dân Vai trò của BHYT toàn dân được thể hiện qua một số khía cạnh sau: - Phục vụ xã hội: do BHYT là một chính sách với mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội, nên vai trò đầu tiên và quan trọng hơn cả chính là phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân trong một quốc gia, hướng đến những người khó khăn thu nhập thấp với mục đích nhân văn cao cả.
- Bảo vệ sức khỏe nhân dân: BHYT hoạt động với mục đích chính là đảm bảo về mặt sức khỏe cho những người tham gia BHYT và gia đình của họ không may gặp rủi ro về sức khỏe được khám chữa bệnh và điều trị chăm sóc kịp thời. - Góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội: cụ thể là hướng đến những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn như người nghèo, người cận nghèo, người có công, thương bệnh binh, Bà mẹ Việt Nam anh hùng…cũng nhận được những sự ưu đãi của Nhà nước. - Góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa lĩnh vực y tế: thông qua chính sách BHYT sẽ huy động được các nguồn lực về tài chính cho việc phát triển hệ thống y tế quốc gia, phát triển đa dạng thành phần tham gia khám chữa bệnh. Tạo nhiều cơ hội lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh cho người tham gia BHYT, và giúp người tham gia BHYT không bị phân biệt trong việc thanh toán chi phí khám chữa bệnh giữa các cơ sở công lập hay tư nhân.